|
|
-ooOoo-
[01]
Lời mở
đầu
Phần sau đây là
tập thứ nh́, góp nhặt những thời Pháp do Ngài Ajahn Chah thuyết
giảng và chư Tăng sưu tập. Tập thứ nhất, dưới tựa đề "Bodhinyàna"
(Giác Minh) là phần giới thiệu giáo huấn và lối giảng dạy của Ngài
Achahn. Mục đích của tập nầy là gom góp lại vài thời giảng có tánh
chất đặc biệt hơn, đề cập đến sắc thái tinh vi tế nhị của pháp
hành. Về phương diện nầy tôi phải nói rơ rằng nhiều khi tôi chỉ
dùng một phần của bài Pháp. Như vậy bởi v́ sách được sưu tập với
một khái niệm riêng biệt: để tŕnh bày rơ ràng và chính xác một
vài sắc thái của những lời dạy, mà không làm tổn hại đến luồng
trôi chảy của lời nói. Do đó tôi phải thận trọng chọn lọc phương
cách chuyển ngữ, chọn những thời Pháp hoặc các phần của những bài
giảng có thể dễ dàng hợp chung thành một loại h́nh ảnh chung. Về
phương diện nầy, tập "A Taste of Freedom" (Hương Vị Giải Thoát) có
phần khác hơn tập "Bodhinyàna" (Giác Minh), chỉ chuyển dịch những
lời dạy vào lúc bấy giờ, và như vậy không được sắp xếp chung thành
một toàn thể mà chỉ từng bài riêng rẽ.
Tuy nhiên, nếu
người đọc muốn t́m thấy nơi đây một hướng dẫn pháp hành thiền có
hệ thống, th́ ắt sẽ thất vọng; nên ghi nhận rằng đây là những thời
Pháp riêng biệt, được thuyết giảng ở những nơi khác nhau tại Thái
Lan và Anh Quốc, trong khoảng thời gian hơn mười năm.
Trong khi phiên
dịch tập nầy tôi có hai mục đích. Trước tiên cố gắng viết lại
những lời dạy một cách càng rơ ràng, càng sáng tỏ càng tốt, cố
tránh cạm bẫy đưa vào lối dịch từng chữ. Muốn được vậy, trước khi
phiên dịch tôi cố gắng thấu hiểu những điểm chánh yếu những ǵ
Ngài Achahn muốn nói. Hiểm họa của lối chuyển ngữ từng chữ là
thường bị lạc lối trong hoàn cảnh rối loạn của đám rừng danh từ,
làm tối nghĩa.
Cực đoan kia là
không lưu tâm đến đường lối thuyết giảng và cá tánh của vị Thầy,
mà tự do thông dịch theo ư ḿnh. Nhằm tránh hai điều ấy tôi cố
gắng trung thành theo sát lối nói chuyện có tánh cách khôi hài u
mặc của Ngài. V́ ngài Ajahn Chah thường thuyết giảng Giáo Pháp với
lối nói chuyện theo ngôn ngữ thường ngày của người Thái vùng Tây
Bắc, hoặc thổ ngữ "Isahn'", tôi cố gắng chuyển dịch các thời Pháp
ấy sang tiếng Anh thông dụng thường ngày.
Đó là những điểm khó. Không thể chuyển dịch
Giáo Pháp từ văn nói lên trên những trang giấy, mà không sắp xếp
sửa chữa bản thảo đôi chút. Công việc nầy tôi đă tận lực cố gắng,
nhưng không thể tránh lặp đi lặp lại vài danh từ để câu văn trôi
chảy suông sẻ.
Để về sau dễ dàng tham khảo, tựa của những thời
Pháp đă được thêm vào. Chính tự Ngài Ajahn Chah không có đặt tên,
và trong thực tế, thông thường Ngài không có soạn thảo trước. Giáo
Pháp sẵn ngay tại đó, và hồn nhiên tuôn trào thoát ra. Giáo huấn
được ứng khẩu ban truyền sẽ khác biệt nhau tùy theo thính giả. Mặc
dầu Giáo Pháp là một, mức độ lănh hội của người nghe khác nhau, và
nhu cầu hiểu biết không giống nhau, v́ thế Lời Dạy được áp dụng
cần phải thích ứng với trường hợp. Như Ngài Ajahn Chah nói, nếu
thấy vị kia tách rời Con Đường đi lệch qua bên trái th́ Ngài bảo.
"Phải đi hướng về bên phải!"; nếu thấy người nọ đi lệch bên phải
th́ Ngài nói, "Phải đi hướng về bên trái!". Lời dạy có thể xem
h́nh như tiền hậu bất nhất, có vẻ như mâu thuẫn nhau, nhưng Con
Đường là một.
Trong những thời
Pháp thường có nhiều danh từ Phạn ngữ (Pàli) ít quen thuộc với quư
vị đọc giả Phương Tây, phần lớn tôi đă phiên dịch sang Anh ngữ.
Tuy nhiên có những nơi mà tôi không t́m ra cách phiên dịch thích
ứng nên giữ nguyên tiếng Pàli, thường có lời chú giải kèm theo.
Đàng khác trong suốt năm thời Pháp, đặc biệt có hai danh từ làm
cho tôi ngập ngừng không nhất quyết là "Kamasukhallikànuyogo"
và "Attakilamathànuyogo". Quư vị đọc giả không quen thuộc
với những danh từ nầy có thể lướt qua, cũng không cần bận tâm t́m
cách đọc! V́ lẽ ấy tôi đă phiên dịch, mặc dầu không cần thiết lắm,
để hiểu ư nghĩa của đoạn văn nầy. Mỗi lần đề cập đến hai danh từ
nầy Ngài Ajahn thường giải thích theo thông thường bằng những danh
từ Pàli khác. Nhưng nó quá dài ḍng nên tôi uyển chuyển dùng hai
thành ngữ, "Lợi Dưỡng trong Dục Lạc" và
"Lợi Dưỡng trong Đau Khổ".
Sau cùng tôi muốn
nói thêm rằng tuy bản dịch nầy phần lớn là công tŕnh của một
người, nó đă được những vị hội viên của Tăng Già khác duyệt lại,
và nơi đây tôi xin bày tỏ ḷng tri ân của tôi với những gợi ư quư
báu của các vị ấy.
Ngưỡng nguyện rằng
những ai đọc sách nầy sẽ khai thông Pháp Nhăn.
Người dịch
(từ Thái sang Anh)
Thiền viện Wat Pah Nanachat,
Ubon Rajathani, Thái Lan
-ooOoo-
Về cái tâm nầy...
Về cái tâm nầy...
trong thực tế không có ǵ thật sự là sai lầm. Bản chất cố hữu dính
liền với nó là trong sạch. Do bản tánh thiên nhiên, tự nó là thanh
b́nh an lạc. Sở dĩ ngày nay tâm không được an lạc là bởi v́ nó măi
chạy theo những cảm xúc thương, ghét, buồn, vui, của đời. Cái tâm
chân thật không có ǵ là vui buồn hay thương ghét mà đơn giản chỉ
là một sắc thái của Thiên Nhiên. Tâm trở nên an lạc hay chao động
v́ bị cảm xúc lường gạt. Một cái tâm không được rèn luyện quả thật
là khờ dại. Cảm thọ do giác quan đưa đến phỉnh lừa, đưa nó vào
những trạng thái hạnh phúc, đau khổ, thỏa thích, hay âu sầu phiền
muộn, nhưng bản chất thật sự của tâm th́ không có ǵ như vậy.
Trạng thái thỏa thích hay âu sầu ấy không phải là tâm mà chỉ là
những cảm xúc, đến để lừa đảo phỉnh gạt chúng ta. Một cái tâm
không được rèn luyện sẽ lạc lối và bám sát theo những xúc cảm buồn
vui thương ghét ấy và tự quên ḿnh. Rồi ta nghĩ rằng chính ta băn
khoăn lo ngại, hoặc dễ chịu thoải mái, hoặc ǵ khác.
Nhưng trong thực
tế tâm vốn không chao động mà thanh b́nh ... thật sự an lạc! Giống
như chiếc lá cây nằm im khi không có gió. Ngọn gió thoảng qua, lá
liền chao động. Lá chao động v́ gió -- trạng thái tâm "chao động"
phát sanh do những cảm xúc. Tâm bám sát, chạy theo. Nếu tâm không
chạy theo ắt không "chao động". Nếu chúng ta thấu hiểu tận tường
bản chất thật sự của những cảm xúc ắt chúng ta không c̣n lo âu tư
lự.
Pháp hành của
chúng ta chỉ để nhận thấy bản chất thật sự của cái Tâm Nguyên
Thủy. Như vậy phải rèn luyện tâm để thấu hiểu những cảm xúc và
không bị lạc lối trong đó, làm cho tâm thanh b́nh an lạc. Chính đó
là mục tiêu mà ta phải thành đạt xuyên qua bao nhiêu khó khăn của
pháp hành.
Pháp hành thiền
...Cái ǵ bám
sát "theo dơi" những yếu tố tâm khác nhau phát sanh trong khi
hành thiền là "niệm" (sati). Sati là cả cuộc sống. Mỗi khi ta
thất niệm, không có sati, khi ta dể duôi lơ đễnh, là cũng giống
như đă chết ... Niệm chỉ là sự hiện hữu của tâm. Đó là nguyên
nhân làm phát sanh trạng thái tự hay biết ḿnh và trí tuệ ...
Dầu trong khi không nhập định (samàdhi), luôn luôn phải giữ
chánh niệm.
Làm cho tâm vắng
lặng có nghĩa là t́m đúng trạng thái quân b́nh. Nếu cố gắng bắt
buộc tâm ḿnh làm việc quá sức, ắt nó đi quá xa. Nếu không cố gắng
đầy đủ, nó đi không đến nơi đến chốn, mất thăng bằng.
Thông thường, tâm
không yên tĩnh ở một nơi luôn luôn chuyển động, nhưng nó kém năng
lực. Làm cho tâm có nhiều năng lực và tạo năng lực cho thân không
giống nhau. Muốn cho thân có sức mạnh phải thúc đẩy, bắt nó vận
động. Nhưng làm cho tâm mạnh có nghĩa là làm cho nó an lạc, không
nghĩ ngợi suy tư điều nầy việc nọ. Đối với phần đông chúng ta, tâm
không bao giờ an lạc, không bao giờ có được năng lực của "định"
(samàdhi) -- trạng thái tâm an trụ và tĩnh lặng do pháp môn hành
thiền, ở với "người hiểu biết".
Nếu ép buộc hơi
thở của ḿnh phải quá dài hay quá ngắn, chúng ta sẽ không quân
b́nh, tâm sẽ không an lạc. Cũng như ta bắt đầu xử dụng bàn máy may
đạp bằng chân. Trước tiên chỉ tập đạp không cho quen chân, rồi sau
đó mới thật sự may món đồ ǵ. Theo dơi hơi thở cũng dường thế ấy.
Không cần phải lo lắng quan tâm đến hơi thở dài hay ngắn, mạnh hay
yếu, chỉ ghi nhận. Chỉ để cho hơi thở tự nhiên diễn tiến và ghi
nhận diễn tiến tự nhiên ấy.
Khi hơi thở đều
đặn ta sẽ lấy đó làm đề mục hành thiền. Lúc thở vào, đoạn đầu của
hơi thở ở tại chót mũi, đoạn giữa tại lồng ngực, và đoạn cuối ở
bụng. Đó là con đường của hơi thở. Khi thở ra, đoạn đầu của hơi
thở ở bụng, đoạn giữa ở lồng ngực, và đoạn cuối cùng ở chót mũi.
Ta chỉ giản dị theo dơi ghi nhận luồng hơi thở ở chót mũi, lồng
ngực, và bụng. Rồi bụng, lồng ngực, và chót mũi. Chúng ta ghi nhận
ba điểm nầy để làm cho tâm vững chắc, để hạn chế những hoạt động
tâm linh nhằm giúp phát sanh dễ dàng tâm chú niệm và tự hay biết
ḿnh.
Đến lúc đă thuần thục ghi nhận ba điểm nầy, ta
có thể không theo dơi hơi thở trọn vẹn từ chót mũi đến bụng nữa mà
chỉ chú tâm nơi chót mũi, hoặc ở môi trên, nơi nào mà luồng hơi
chạm vào, và chỉ theo dơi hơi thở nơi điểm ấy. Không cần phải đi
theo hơi thở, mà chỉ chú niệm vào chót mũi và ghi nhận hơi thở tại
ngay điểm duy nhất ấy -- vào, ra, vào, ra ... Không cần phải suy
nghĩ ǵ đặc biệt. Trong hiện tại chỉ tập trung nỗ lực vào nhiệm vụ
đơn giản nầy, luôn luôn có sự chú tâm hay biết. Không có ǵ khác
phải làm, chỉ thở vào, thở ra. Không bao lâu tâm trở nên an lạc,
hơi thở trở nên vi tế. Thân tâm nhẹ nhàng. Đó là trạng thái đúng,
trong công phu hành thiền.
Khi ngồi thiền,
tâm trở nên vi tế, nhưng bất luận trạng thái tâm như thế nào ta
phải cố gắng hay biết, thấu hiểu nó. Sinh hoạt tâm linh cùng ở
chung với trạng thái vắng lặng. Có chi thiền Tầm (Vitakka), trạng
thái tâm đưa đến đề mục. Nếu niệm (sati) yếu, Tầm (Vitakka) cũng
yếu. Rồi tiếp theo đó là chi thiền Sát, hay Tứ (Vicàra), tức trạng
thái quán niệm quanh quẩn đề mục. Thỉnh thoảng những cảm giác yếu
ớt khác nhau có thể phát hiện, nhưng tự hay biết ḿnh là yếu tố
quan trọng, bất cứ ǵ xảy ra, ta liên tục hay biết. Càng đi sâu
vào thiền ta càng hay biết thường xuyên trạng thái tâm của ta,
thấu hiểu tâm có an trụ vững chắc cùng không. Như vậy cả hai, chú
niệm và hay biết đều hiện diện, hành giả luôn luôn chú niệm và hay
biết.
Tâm an lạc không
có nghĩa là không có ǵ xảy ra, những cảm xúc có thể phát sanh.
Thí dụ như khi đề cập đến sơ thiền, tầng vắng lặng đầu tiên, ta
nói có năm chi. Cùng với hai chi thiền Tầm và Sát, chi thiền Phỉ
(Ṕti) cũng phát sanh với đề mục và sau đó là chi thiền Lạc
(Sukha). Cả bốn chi thiền nầy đều nằm chung trong tâm vắng lặng,
an trụ vững chắc. Tất cả cùng ở chung trong một trạng thái. [1]
Chi thứ năm là
Nhất Điểm Tâm (Ekaggatà), tâm gom vào một điểm duy nhất. Ta có thể
ngạc nhiên, làm sao tâm có thể là "nhất điểm" trong khi c̣n có
những chi thiền khác cùng hiện diện trong một lúc. Đó là v́ tất cả
đều hợp nhất, an trụ trên nền tảng vắng lặng. Hợp chung lại cả năm
chi thiền được gọi chung là "định" (samàdhi). Nó không phải là
trạng thái tâm mà ta có hằng ngày, mà là những yếu tố của vắng
lặng, các chi thiền. Có năm đặc điểm ấy, nhưng không làm xáo trộn
trạng thái vắng lặng căn bản. Có chi Tầm, nhưng nó không khuấy
động tâm. Sát, Phỉ, Lạc phát sanh, nhưng không làm xáo trộn tâm.
Tâm là một, đồng nhất thể với các chi thiền. Tầng vắng lặng đầu
tiên là như vậy.
Chúng ta không cần
đề cập đến các tầng Thiền (Jhàna) -- sơ thiền, nhị thiền, tam
thiền, và tứ thiền -- Hăy gọi nó là "tâm an lạc". Vào lúc trở nên
ngày càng vắng lặng hơn, tâm không cần đến Tầm và Sát nữa, mà chỉ
c̣n Phỉ và Lạc. Tại sao tâm loại bỏ Tầm và Sát? Đó là v́ khi tâm
càng vi tế hơn th́ tác động của Tầm và Sát trở thành quá thô thiển
để tồn tại chung. Vào giai đoạn nầy, khi tâm loại bỏ Tầm và Sát,
những cảm giác phỉ lạc mạnh mẽ có thể phát sanh, nước mắt có thể
tuôn chảy. Nhưng khi trạng thái Định vững mạnh sâu sắc thêm, Phỉ
cũng bị loại ra, chỉ c̣n Lạc và Trụ, hay Nhất Điểm Tâm. Cuối cùng,
lạc cũng được loại bỏ và tâm tiến đạt đến mức độ vi tế cao nhất,
chỉ c̣n Xả và Nhất Điểm Tâm, tất cả những chi thiền khác đều bị
loại. Tâm đứng yên, vững chắc không chao động.
Một khi tâm đă an
lạc th́ điều nầy có thể xảy đến. Quư vị không cần suy tư nhiều về
nó, tự nó sẽ đến. Đó là năng lực của tâm an lạc. Trong trạng thái
nầy tâm không nghe hôn trầm. Cả năm chướng ngại tinh thần: tham
dục, oán ghét, hôn trầm dă dượi, phóng dật lo âu, và hoài nghi đều
tan biến,
Tuy nhiên, nếu
năng lực tinh thần vẫn chưa đủ mạnh và chú niệm c̣n yếu, đôi khi
một vài cảm xúc sẽ lẫn xen vào. Tâm an lạc, nhưng trong sự tĩnh
lặng dường như có một trạng thái lu mờ. Mặc dầu vậy, đó không phải
là loại hôn trầm b́nh thường, một vài cảm xúc sẽ biểu hiện -- có
thể chúng ta nghe một tiếng động hay thấy một vật, con chó hay ǵ
khác.
Nó không phải thật
sự rơ ràng nhưng cũng không phải là một giấc mơ. Đó là v́ năm pháp
triền cái không quân b́nh và c̣n yếu ớt.
Tâm có chiều hướng
bày tṛ phỉnh gạt bên trong những tầng vắng lặng. Những h́nh ảnh
tưởng tượng xuyên qua giác quan, đôi khi sẽ phát sanh khi tâm ở
vào trạng thái nầy, và hành giả không thể nói một cách chính xác
những ǵ đă xảy ra, "Tôi có đang ngủ chăng? Không. Phải chăng đó
là một giấc mơ." Những cảm giác tương tợ thường phát sanh trong
trạng thái vắng lặng; nhưng nếu tâm thật sự vắng lặng và sáng tỏ
chúng ta không hoài nghi những cảm giác, hoặc những h́nh ảnh tưởng
tượng khác nhau đă phát sanh. Những thắc mắc như, "Tôi có phóng
tâm không? Tôi có ngủ không? Tôi có lạc lối không?" không phát
sanh, bởi v́ nó là những đặc điểm của cái tâm c̣n hoài nghi, "Tôi
ngủ hay thức? ... Đó, nó bị rối nùi! Đó là cái tâm bị lạc lối
trong những cảm giác. Giống như ánh trăng bị vầng mây che án. Ta
vẫn c̣n thấy mặt trăng, nhưng nó bị mây án nên trở thành lu mờ.
Không phải như mặt trăng đă vượt ra khỏi đám mây -- trong sáng, rơ
ràng và rạng ngời.
Khi tâm an lạc và
kiên cố vững chắc trong chú niệm và trong trạng thái tự hay biết,
sẽ không c̣n hoài nghi đối với những hiện tượng khác nhau mà ḿnh
gặp phải. Nó sẽ thật sự vượt ra ngoài những chướng ngại tinh thần.
Chúng ta sẽ thấu hiểu rơ ràng tất cả những ǵ phát sanh đến tâm,
đúng như chính thật nó là vậy. Chúng ta không hoài nghi bởi v́ tâm
đă sáng ngời và tỏ rạng. Cái tâm tiến đạt đến "định" (samàdhi) là
như vậy.
Tuy nhiên, vài
người cảm thấy khó mà nhập định (samàdhi), bởi v́ việc nầy không
thích hợp với khuynh hướng tự nhiên của họ. Tâm có định, nhưng
không đủ dũng mănh và không đủ kiên cố. Trong trường hợp nầy, có
thể thành tựu an lạc bằng cách dùng trí tuệ để quán chiếu và nhận
thấy chân lư của sự vật, giải quyết vấn đề như vậy. Đó là xử dụng
trí tuệ, thay v́ năng lực của định. Trong thực tế, không cần thiết
phải ngồi thiền để thành đạt trạng thái vắng lặng. Chỉ tự hỏi
ḿnh, "Ê! Cái ǵ vậy?" và giải quyết vấn đề ngay tại đó! Người có
trí tuệ là vậy. Có thể không thật sự đạt đến những tầng cao nhất
của tâm định, mặc dầu vậy người ấy cũng phát triển tâm an trụ đầy
đủ để trau giồi trí tuệ. Cũng giống như sự khác biệt giữa trồng
lúa và trồng bắp. Để sinh sống, người kia có thể tùy thuộc vào lúa
nhiều hơn bắp. Pháp hành của chúng ta cũng dường như thế ấy, tùy
thuộc nhiều hơn vào trí tuệ để giải quyết vấn đề. Khi đă thấy chân
lư, an lạc sẽ phát sanh.
Hai đường lối nầy
không giống nhau. Vài người có tuệ minh sát và trí tuệ dũng mănh,
nhưng không có nhiều tâm định. Khi ngồi xuống hành thiền họ không
thấy nhiều an lạc. Họ có khuynh hướng suy tư buông lung, quán
tưởng điều nầy việc nọ, cho đến khi t́nh cờ họ quán niệm về hạnh
phúc và đau khổ và thấy chân lư trong đó. Họ thiên về quán chiếu
sự vật hơn là định tâm. Bất luận giờ phút nào -- trong khi đi,
đứng, nằm hay ngồi [2]-- ta cũng có thể chứng ngộ Giáo Pháp. Do
nhận thấy, do từ bỏ, họ đạt đến an lạc thanh b́nh. Họ thành tựu
trạng thái an lạc bằng cách thấu triệt chân lư mà không chút hoài
nghi, bởi v́ chính họ đă nhận thấy.
Người khác, có ít
trí tuệ nhưng tâm định rất dũng mănh. Họ có thể nhập định một cách
nhanh chóng và thâm sâu, nhưng không có nhiều trí tuệ. Họ không
thể chụp bắt được các ô nhiễm của họ, không nhận biết nó. Họ không
thể giải quyết vấn đề.
Nhưng, bất luận
đường lối nào đă chọn, ta phải loại bỏ suy tư lầm lạc và chỉ giữ
lại chánh kiến. Phải loại trừ t́nh trạng mơ hồ hỗn loạn, chỉ giữ
lại an lạc thanh b́nh. Đàng nào chúng ta cũng chấm dứt cùng một
nơi. Pháp hành có hai mặt, vắng lặng và minh sát, nhưng cả hai
cùng hợp chung thành một. Không thể bỏ một trong hai. Nó phải cùng
đi chung.
Cái ǵ "canh
chừng" những yếu tố khác nhau phát sanh trong lúc hành thiền là
sati, niệm. Xuyên qua pháp hành, niệm là điều kiện có thể trợ
duyên cho các yếu tố khác khởi sanh. Niệm là sự sống. Bất cứ lúc
nào không có niệm, khi ta để tâm buông lung vọng động, th́ dường
như ta chết. Nếu không có niệm, lời nói và hành động của ta không
có ư nghĩa. Niệm ở đây chỉ là sự hiện hữu của tâm. Niệm tạo nhân
duyên cho trạng thái tự hay biết và trí tuệ phát sanh. Nếu không
có niệm th́ bất cứ đức hạnh nào mà ta trau giồi cũng sẽ không toàn
hảo. Niệm là cái ǵ canh chừng chúng ta trong khi đi, đứng, nằm,
ngồi. Dầu trong những lúc mà chúng ta không định, phải luôn luôn
giữ chánh niệm. Bất luận ǵ ta làm, phải thận trọng. Một ư thức hổ
thẹn [3] phát sanh. Ta sẽ cảm nghe hổ thẹn v́ việc mà ta làm đă tỏ
ra là sai lầm. Khi hổ thẹn tăng trưởng, tâm niệm cũng tăng trưởng.
Khi tâm niệm tăng trưởng, tâm dể duôi buông lung sẽ tan biến. Dầu
không phải lúc ta đang ngồi thiền những yếu tố ấy vẫn hiện hữu
trong tâm.
Điều ấy phát sanh bởi v́ tâm niệm của ta đă
được trau giồi. Hăy phát triển chú niệm! Đó là yếu tố canh chừng,
trông nom công việc mà ta đang làm hoặc đă làm trong quá khứ. Nó
thật sự là hữu dụng. Chúng ta phải luôn luôn tự hiểu biết ḿnh.
Như thế ấy, những ǵ đúng đắn hay sai lầm sẽ được phân biệt rành
mạch, con đường sẽ trở nên tỏ rạng và nguyên nhân sanh hổ thẹn sẽ
biến tan. Trí tuệ sẽ bừng dậy.
Chúng ta có thể
gom chung pháp hành lại trong ba pháp tu học: Giới, Định, Tuệ.
Trầm tĩnh tự kiểm soát là Giới. Kiên tŕ củng cố tâm vững chắc
trong khuôn khổ của sự kiểm soát ấy là Định. Thấu hiểu trọn vẹn,
tận tường và rành mạch trong mọi sinh hoạt là Tuệ. Tóm tắt, pháp
hành chỉ là Giới, Định, Tuệ, hoặc nói cách khác, là Con Đường.
Không có đường lối nào khác.
Điều ḥa trên con đường
... Với chánh
định, bất luận tầng lớp vắng lặng nào mà ta thành đạt, cũng có
sự hay biết. Có chú niệm đầy đủ và hiểu biết rơ ràng. Đó là tâm
định có thể làm phát sanh trí tuệ, ta không thể bị lạc lối trong
đó. Hành giả phải hiểu biết đúng như vậy ...
Hôm nay Sư muốn
hỏi tất cả quư vị, "Quư vị đă chắc chắn chưa, quư vị đă vững ḷng
tin chắc nơi pháp hành thiền của ḿnh chưa? Sở dĩ Sư hỏi như vậy
là v́ hiện nay có rất nhiều người dạy thiền, xuất gia có mà cư sĩ
cũng có, và Sư e sợ rằng quư vị có thể hoang mang và hoài nghi.
Nếu thấu hiểu rơ ràng, ta có thể làm cho tâm trở nên an lạc và
vững chắc, không chao động.
Quư vị phải hiểu
rằng Bát Chánh Đạo là Giới, Định, và Tuệ. Keo gọn lại con đường
th́ nó chỉ đơn giản là như vậy. Pháp hành của chúng ta là làm cho
con đường ấy phát sanh bên trong ḿnh.
Khi ngồi thiền
chúng ta được dạy nên nhắm mắt lại, không nh́n ǵ khác, bởi v́
chúng ta sắp sửa nh́n thẳng vào tâm. Khi nhắm mắt, sự chú tâm sẽ
hướng vào bên trong. Chúng ta đặt sự chú tâm vào hơi thở, tập
trung những cảm giác của ḿnh vào đó, niệm hơi thở. Đến lúc các
yếu tố của con đường điều hợp tốt đẹp ta sẽ có thể thấy hơi thở,
những cảm giác, tâm, và những trạng thái của nó đúng như thật sự
nó là vậy. Nơi đây ta sẽ thấy "điểm tập trung", nơi mà định
(samàdhi) và các yếu tố khác của con đường tụ hội một cách điều
hoà.
Khi ngồi lại hành
thiền, theo dơi hơi thở, hăy nghĩ thầm rằng hiện thời ḿnh đang
ngồi đơn độc một ḿnh. Quanh ḿnh không có ai ngồi. Không có ǵ
cả. Hăy cảm nghĩ rằng ta đang ngồi một ḿnh, cho đến khi tâm không
c̣n nghĩ ngợi ǵ đến ngoại cảnh, chỉ chăm chú vào hơi thở mà thôi.
Nếu ta nghĩ, "Người nầy ngồi đây, người kia ngồi chỗ kia", ắt
không có an lạc, tâm không hướng vào trong. Hăy gạt bỏ tất cả
những suy tư nghĩ ngợi ấy qua một bên cho đến khi cảm nghe rằng
không có ai ngồi quanh ḿnh, cho đến khi không c̣n ǵ hết, cho đến
khi tâm không c̣n giao động hay bận bịu đến cảnh vật bên ngoài.
Hăy để cho luồng
hơi thở trôi chảy tự nhiên, không nên ép nó phải ngắn hay dài, hay
như thế nào khác. Chỉ ngồi theo dơi, trông chừng hơi vào, hơi ra.
Khi tâm buông bỏ, không chú trọng đến những cảm kích từ bên ngoài
đến, th́ tiếng động của xe hay những âm thanh tương tợ không c̣n
khuấy động ta nữa. Không có ǵ, dầu tiếng động hay h́nh thể, làm
cho ta giao động bởi v́ tâm không c̣n cảm nhận nó nữa. Sự chú tâm
của ta đă nhập vào cùng với hơi thở là một.
Nếu tâm c̣n vọng
động và không thể tập trung vào hơi thở, hăy thở vào thật dài,
thật sâu, rồi từ từ thở ra cho hết, chí đến khi không c̣n hơi
trong lồng ngực. Làm như vậy ba lần, rồi trở lại chú niệm b́nh
thường. Tâm sẽ an trụ trở lại.
Tâm sẽ an trụ một
lúc rồi phóng dật, vọng động trở lại, điều đó cũng là tự nhiên.
Khi trường hợp như vậy xảy ra, hăy thở hơi thật dài, thật sâu như
trước và tâm luôn luôn theo dơi luồng hơi. Cứ tiếp tục làm như
vậy. Lặp đi lặp lại nhiều lần, tâm sẽ quen, trở nên thuần thục, và
sẽ buông bỏ. Ngoại cảnh không c̣n lẻn nhập vào tâm. Chú niệm
(sati) sẽ kiên cố vững chắc. Khi tâm trở nên tế nhị, hơi thở càng
tinh vi. Cảm xúc càng lúc càng trở nên vi tế, thân tâm sẽ nhẹ
nhàng. Sự chú tâm của ta hoàn toàn hướng vào bên trong. Ta nhận
thấy hơi thở ra thở vào một cách rơ ràng, và thấy rơ ràng những
cảm xúc. Ta sẽ thấy Giới, Định và Tuệ cùng hợp chung lại. Đó gọi
là Con Đường Trong Trạng Thái Điều Ḥa. Tâm không c̣n vọng động mà
tập trung lại làm một. Hiện tượng nầy được gọi là samàdhi, định.
Sau khi theo dơi
hơi thở một thời gian lâu có thể hành giả nhận thấy rằng luồng hơi
thở trở nên rất tế nhị, càng lúc càng tế nhị hơn ... và t́nh trạng
"hay biết hơi thở" dần dần chấm dứt, chỉ c̣n hay biết suông. Luồng
hơi mất hẳn! Có thể hành giả "chỉ ngồi đó", mà dường như không c̣n
thở ǵ hết. Trong thực tế, vẫn c̣n thở, nhưng dường như không c̣n
ǵ hết. Đó là v́ tâm đă đạt đến mức độ vô cùng vi tế, đă vượt ra
ngoài hơi thở, chỉ c̣n sự hay biết. Lúc bấy giờ hành giả hiểu biết
luồng hơi thở đă tan biến, và sự hiểu biết nầy đă được ổn định.
Hơi thở đă mất, bây giờ phải lấy ǵ làm đề mục hành thiền? Ta chỉ
lấy sự hiểu biết ấy làm đề mục, tức hay biết rằng không c̣n hơi
thở.
Đến đây nhiều hiện tượng bất ngờ có thể xảy dến
hành giả; vài vị chứng nghiệm, vài vị không. Nếu có xảy đến, ta
phải giữ chánh niệm vững chắc và dũng mănh. Vài người thấy mất hơi
thở th́ phát sợ, họ sợ có thể chết. Nơi đây ta phải thấu hiểu hoàn
cảnh cho đúng. Chỉ đơn giản ghi nhận rằng không c̣n hơi thở, và
lấy trạng thái không có hơi thở ấy làm đề mục hành thiền. Ta có
thể nói rằng đó là loại định vững vàng và chắc chắn nhất. Chỉ c̣n
một trạng thái tâm vững chắc, không chao động. Có thể hành giả cảm
nghe thân ḿnh nhẹ nhàng dường như không có thân, hay cảm nghe như
ḿnh ngồi trong hư không, tất cả như trống rỗng. Mặc dầu điều ấy
có thể h́nh như bất thường, quư vị phải hiểu rằng không có ǵ đáng
lo sợ. Hăy giữ tâm kiên cố như vậy.
Khi tâm đă vững
chắc an trụ, không bị cảm xúc nào khuấy động, ta có thể ở trong
trạng thái nầy bao lâu cũng được. Những cảm giác đau nhức trong cơ
thể không c̣n làm bận rộn nữa. Khi tâm định tiến đạt đến mức độ
nầy ta có thể xuất thiền bất cứ lúc nào theo ư muốn, rời trạng
thái định một cách thoải mái, không phải v́ mệt mỏi hay v́ chán
nản. Chúng ta xuất ra khỏi định bởi v́ thấy rằng giờ đây như vậy
đă đủ, xuất ra trong t́nh trạng thoải mái dễ chịu, không có ǵ bận
rộn.
Nếu ta có thể phát
triển loại tâm định nầy và ngồi, thí dụ như nửa giờ hay một giờ,
tâm sẽ trở nên mát mẻ và vắng lặng trong nhiều ngày. Khi tâm mát
mẻ và vắng lặng như vậy th́ nó trong sạch. Bất cứ ǵ mà ta chứng
nghiệm tâm sẽ quan sát tỉ mỉ. Đó là thành quả của tâm định.
Giới có một tác
dụng, Định có một tác dụng, và Tuệ có một tác dụng khác nữa. Những
yếu tố ấy cũng như một bánh xe. Ta có thể thấy đầy đủ tất cả trong
cái tâm an lạc thanh b́nh. Khi tâm vắng lặng nó cũng an trụ và thu
thúc, do trí tuệ và năng lực của định. Tâm càng an trụ tốt đẹp
càng trở nên vi tế hơn. Năng lực của trạng thái tâm vi tế giúp cho
giới hạnh mạnh mẽ vững chắc và do đó, càng trong sạch hơn. Giới
thanh tịnh giúp phát triển định. Tâm định kiên cố giúp phát sanh
trí tuệ. Giới, Định và Tuệ trợ giúp lẫn nhau và tương quan hỗ trợ
như thế ấy. Cuối cùng Con Đường trở thành một, và luôn luôn tác
động. Chúng ta phải xem chừng năng lực phát sanh từ Con Đường bởi
v́ đó là sức mạnh dẫn đến giác ngộ và trí tuệ. [4]
Về Những Hiểm Họa Của Tâm Định
Tâm định (samàdhi)
có thể đem lại nhiều tai hại cũng như nhiều lợi ích đến hành giả.
Ta không thể nói quả quyết điều nầy hay điều nọ. Đối với người
không có trí tuệ th́ có hại, nhưng với người có trí tuệ th́ tâm
định đem lại nhiều lợi ích thật sự. Tâm định có thể đưa đến Tuệ
Minh Sát.
Điều có thể gây tai hại lớn lao nhất cho hành
giả là các tầng Thiền (Jhàna), tâm định với trạng thái vắng lặng
vững chắc và thâm sâu. Tâm định nầy đem lại rất nhiều an lạc. Khi
có an lạc là có thỏa thích. Khi thỏa thích ắt có luyến ái, dính
mắc, và bám níu chặt chẽ vào sự thỏa thích ấy. Hành giả không c̣n
muốn quán chiếu ǵ khác nữa mà chỉ thỏa thích trong thọ cảm nhàn
lạc mà ḿnh đang hưởng. Khi hành thiền lâu ngày chúng ta có thể dễ
dàng nhập vào trạng thái định nầy một cách mau lẹ. Vừa bắt đầu ghi
nhận đề mục là tâm trở nên vắng lặng, và ta không muốn rời khỏi nó
để quán chiếu ǵ khác. Ta chỉ dính kẹt trong thỏa thích ấy. Đó là
mối nguy hại có thể đến với người hành thiền.
Ta phải dùng cận
định (upacàra samàdhi). Nơi đây, nhập vào trạng thái vắng lặng, và
khi tâm đă đủ vắng lặng th́ ta ra ngoài và nh́n vào "sinh hoạt bên
ngoài" [5]. Nh́n ngoại cảnh với tâm vắng lặng sẽ giúp phát sanh
trí tuệ. Điều nầy khó hiểu một cách rơ ràng bởi v́ nó cũng gần
giống nhau, cũng tương tợ như ta suy tư và tưởng tượng thường
ngày. Khi suy tư, ta có thể nghĩ rằng tâm không an lạc, nhưng
trong thực tế suy tư nầy nằm bên trong vắng lặng. Có quán chiếu,
nhưng vắng lặng không bị khuấy động. Ta có thể làm nổi bật ư nghĩ
hay sự suy tư ấy lên để quán chiếu nó. Nơi đây, ta khơi dậy ư nghĩ
lên để quan sát, t́m hiểu nó, chớ không phải suy tư buông lung,
không có mục tiêu, cũng không phải đoán chừng. Nó là cái ǵ phát
sanh từ tâm an lạc thanh b́nh. Điều nầy được gọi là "hay biết bên
trong vắng lặng, và vắng lặng bên trong hay biết." Nếu chỉ là suy
tư thông thường và tưởng tượng th́ tâm ắt không an lạc mà sẽ chao
động. Nhưng nơi đây Sư không đề cập đến suy tư thông thường, đây
là cảm giác phát sanh từ cái tâm thanh b́nh an lạc. Đó là "quán
niệm". Trí tuệ phát sanh ngay từ đây.
Như vậy, có thể có
chánh định và tà định. Tà định là khi nào tâm lắng vào trạng thái
vắng lặng mà không có sự hay biết ǵ hết. Ta có thể ngồi trong hai
tiếng, hoặc ngồi cả ngày đi nữa, nhưng tâm không biết ḿnh ở đâu
hay điều ǵ đă xảy ra. Không biết ǵ hết. Có vắng lặng, nhưng chỉ
có chừng đó. Cũng giống như một lưỡi dao đă được mài giũa thật bén
nhưng ta không màng dùng vào việc ǵ. Đó là một loại vắng lặng si
mê, bởi v́ không tự biết ḿnh. Lúc bấy giờ hành giả có thể nghĩ
rằng ḿnh đă đạt đến tột đỉnh và không màng t́m kiếm ǵ khác.
Trong trường hợp nầy th́ định (samàdhi) có thể là người thù. Trí
tuệ không thể phát sanh bởi v́ không có sự hay biết điều nào là
đúng, điều nào sai.
Với Chánh Định,
dầu ở tầng lớp vắng lặng nào mà ta đạt đến, luôn luôn có sự hay
biết. Có niệm đầy đủ và hay biết rơ ràng. Đó là tâm định có khả
năng giúp cho trí tuệ phát khởi, ta không thể lạc lối trong đó.
Người hành thiền phải thấu hiểu chắc chắn điều nầy. Không có sự
hay biết quư vị không thể thành công. Phải hay biết từ đầu đến
cuối. Loại định nầy không nguy hại.
Quư vị có thể thắc
mắc, tự hỏi vậy lợi ích phát sanh ở đâu, trí tuệ phát sanh như thế
nào, có phải từ tâm định không? Khi chánh định đă được trau giồi
và phát triển đầy đủ th́ trí tuệ có thể phát khởi bất luận lúc
nào. Khi mắt nh́n thấy h́nh thể, tai nghe âm thanh, mũi hửi mùi,
lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ư chứng nghiệm cảm xúc -- dầu ở trong
oai nghi nào -- tâm vẫn luôn luôn hay biết đầy đủ bản chất thật sự
của những thọ cảm ấy và không đeo níu theo. Khi tâm có trí tuệ dầu
ở trong oai nghi nào, chúng ta hay biết đầy đủ sự phát sanh hạnh
phúc và đau khổ. Chúng ta buông bỏ cả hai, không bám níu vào cái
nào. Đó là hành đúng chánh pháp trong tất cả oai nghi. Những danh
từ "tất cả oai nghi" không phải chỉ hàm xúc những oai nghi của
thân như đi, đứng, nằm, ngồi mà c̣n chỉ cái tâm, trong tất cả
trạng thái tâm, luôn luôn chú niệm và hay biết rơ ràng chân lư.
Khi định được phát triển và trau giồi chân chánh th́ trí tuệ phát
sanh như thế ấy. Đó là Tuệ Minh Sát, t́nh trạng thấu triệt chân
lư.
Có hai loại an lạc
-- loại thô kịch và loại vi tế. An lạc phát sanh từ tâm định là
loại thô. Khi tâm an lạc ắt có thỏa thích, hạnh phúc. Tâm lầm
tưởng hạnh phúc ấy là an lạc. Nhưng hạnh phúc và đau khổ là "hữu",
sự trở thành và "sanh". Không thoát ra khỏi ṿng luân hồi,
samsàra, bởi v́ chúng ta c̣n bám níu vào nó. Như vậy, hạnh phúc
không phải là an lạc, an lạc không phải là hạnh phúc.
Loại hạnh phúc kia
phát sanh từ trí tuệ. Nơi đây chúng ta không c̣n lẫn lộn an lạc
với hạnh phúc. Chúng ta thấu triệt cái tâm quán chiếu hạnh phúc và
đau khổ. Trạng thái an lạc phát sanh từ trí tuệ không phải là hạnh
phúc mà là cái ǵ nhận thấy chân lư của cả hai, hạnh phúc và đau
khổ. Không có sự bám níu vào hai trạng thái ấy, tâm đă vượt lên
cao hơn tầng lớp hạnh phúc và đau khổ. Đó là mục tiêu cứu cánh của
tất cả những pháp hành trong Phật Giáo.
Trung đạo b ên
trong
... Đức Phật ban
truyền ba pháp tu học: Giới, Định và Tuệ. Đó là Con Đường dẫn
đến thanh b́nh an lạc, đường đến giác ngộ. Nhưng trong thực tế,
ba pháp ấy không phải là tinh hoa của Phật Giáo. Đó chỉ là Con
Đường ... Tinh hoa của Phật Giáo là an lạc, và trạng thái an lạc
nầy phát sanh từ sự thấu triệt thực tướng của vạn pháp ...
Phật Giáo dạy ta
không làm điều ác và làm những việc thiện. Như vậy, khi điều ác đă
được lánh xa và điều thiện đă vững chắc ổn định, ta phải buông bỏ
cả hai, thiện và ác. Chúng ta đă có nghe và đă có một kiến thức
đầy đủ về những nghiệp thiện và nghiệp bất thiện. Giờ đây Sư muốn
đề cập đến Trung Đạo, tức con đường lẫn thoát ra cả hai, thiện và
bất thiện nghiệp.
Tất cả những bài
giảng về Giáo Pháp và những lời dạy của Đức Phật chỉ nhằm một mục
tiêu là vạch tỏ và rọi sáng con đường dẫn ra khỏi mọi đau khổ, cho
những ai c̣n chưa lẫn thoát. Những lời dạy nầy nhằm cho ta một sự
hiểu biết chân chánh, chánh kiến. Nếu không hiểu biết chân chánh
ắt ta không thể đạt đến an lạc. Khi những vị Phật khác nhau chứng
ngộ Chánh Đẳng Chánh Giác và ban truyền những lời dạy đầu tiên th́
tất cả các Ngài đều vạch rơ hai cực đoan -- Lợi Dưỡng Trong Dục
Lạc và Lợi Dưỡng Trong Đau Khổ. Đó là hai con đường mê hoặc, là
hai lối sống cực đoan làm cho những ai say mê trong đó phải luôn
luôn vọng động, không bao giờ được thanh b́nh an lạc. Đó là hai
con đường dẫn dắt và cột chặt chúng sanh trong ṿng luân hồi, sanh
tử triền miên.
Đấng Toàn Giác nhận thức rằng tất cả chúng sanh
đều bị dính kẹt trong hai cực đoan ấy, không bao giờ thấy được
Trung Đạo của Giáo Pháp. Do đó Ngài giáo truyền lối sống ở khoảng
giữa, nhằm vạch rơ tầm mức nguy hại của cả hai cực đoan. V́ chúng
ta c̣n dính kẹt, c̣n ham muốn, nên chúng ta vẫn phải c̣n măi măi
sống dưới sự chi phối của nó. Đức Phật tuyên ngôn rằng cả hai đều
là con đường đầu độc, không phải con đường của người hành thiền,
không đưa đến an lạc. Hai con đường ấy là lợi dưỡng, đắm ch́m
trong những thú vui của trần thế và say mê trong cuộc sống ép xác
khổ hạnh hay một cách đơn giản, là con đường dể duôi buông lung và
con đường căng thẳng. Nếu hướng cái nh́n vào và quán chiếu bên
trong ḿnh từng giờ, từng phút, từng khoảnh khắc, quư vị sẽ thấy
rằng con đường căng thẳng là sân hận, là ưu phiền, sầu muộn. Noi
theo con đường ấy chỉ đến khó khăn và thất vọng. C̣n Lợi Dưỡng
Trong Dục Lạc -- nếu quư vị lẫn thoát ra được khỏi nó tức là quư
vị đă thoát ra khỏi thỏa thích. Cả hai con đường, hạnh phúc và đau
khổ, đều không phải là đường lối dẫn đến trạng thái an lạc. Đức
Phật dạy ta nên buông bỏ cả hai, không bám níu vào đau khổ mà cũng
không dính kẹt trong hạnh phúc. Đó là Pháp Hành Chân Chánh. Đó là
Trung Đạo.
Những danh từ
"Trung Đạo" không nhắm vào thân và khẩu mà nhắm vào ư. Khi những
cảm xúc mà ta không ưa thích phát sanh, nó ảnh hưởng tâm, đưa đến
t́nh trạng xáo trộn. Khi tâm bị xáo trộn ắt có "vọng động", đó
không phải là con đường chân chánh. Khi những cảm xúc mà ta ưa
thích phát sanh, tâm sẽ đeo níu vào và lợi dưỡng trong sự thỏa
thích -- đó cũng không phải là con đường chân chánh.
Người đời chúng ta
không thích đau khổ, chúng ta muốn hạnh phúc. Tuy nhiên trong thực
tế, hạnh phúc chỉ là một h́nh thức vi tế của đau khổ. Đau khổ tự
nó là h́nh thức thô kịch. Quư vị có thể ví hạnh phúc và đau khổ
như đầu và đuôi của một con rắn. Đầu rắn là đau khổ, đuôi là hạnh
phúc. Cái đầu của con rắn thật sự là nguy hiểm, nó có nọc độc. Nếu
quư vị sờ đụng ắt nó cắn ngay tức khắc. Nhưng, không nói chi cái
đầu, nếu quư vị chỉ nắm đuôi rắn thôi, nó cũng quay đầu lại cắn
quư vị y hệt như vậy, bởi v́ đầu và đuôi, cả hai đều thuộc về một
con rắn.
Cùng thế ấy cả
hai, hạnh phúc và đau khổ, hay vui thích và sầu muộn, đều cùng cha
cùng mẹ, phát xuất từ một nguồn gốc -- ḷng ham muốn. Chỉ có mê
hoặc, say đắm trong ái dục! Do đó trong lúc thọ hưởng hạnh phúc,
tâm của quư vị không an lạc. Tâm thật sự là không an lạc! Thí dụ
khi đạt được điều ǵ mà ta ưa thích, như tài sản sự nghiệp, danh
vọng quyền thế, những lời khen tặng hay hạnh phúc th́ ta vui vẽ
thỏa thích. Nhưng cùng lúc ấy, tâm vẫn lo ngại, không hoàn toàn
thoải mái dễ chịu v́ sợ nó mất đi. Chính t́nh trạng lo sợ ấy không
phải là an lạc. Về sau nữa, có thể ta mất luôn điều ấy và thật sự
đau khổ. Như vậy, nếu quư vị không nhận thức rơ ràng để kịp thời
buông bỏ, không bám níu vào, th́ chính trong hạnh phúc đă có mầm
mống đau khổ rồi. Nó cũng giống hệt như khi ta nắm đuôi con rắn --
nếu không buông bỏ ắt sẽ bị rắn quay đầu lại cắn. Như vậy dầu là
đầu hay đuôi con rắn, tức thiện hay bất thiện nghiệp, tất cả đều
có đặc tánh cột chặt ta vào những kiếp sống triền miên vô cùng tận
của ṿng luân hồi.
Đức Phật ban truyền ba pháp tu học: Giới, Định,
Tuệ. Đó là con đường dẫn đến an lạc, là con đường Giác Ngộ. Nhưng
thật sự ba pháp ấy không phải là tinh hoa của Phật Giáo. Nó chỉ là
Con Đường. Đức Phật gọi là "Magga", có nghĩa là "Con Đường", hay
Đạo. Tinh hoa của Phật Giáo là an lạc, và trạng thái an lạc nầy
phát sanh từ sự thấu triệt thực tướng của vạn pháp. Nếu quán chiếu
tường tận và phân tách rành mạch, ta có thể thấy rằng an lạc không
phải là hạnh phúc, cũng không phải là đau khổ. Đau khổ và hạnh
phúc, cả hai đều không phải là chân lư.
Tâm của con người
-- cái tâm mà Đức Phật kêu gọi chúng ta nên quán chiếu và thấu
hiểu -- là cái ǵ mà ta chỉ có thể hiểu biết qua sinh hoạt của nó.
Không có ǵ mà ta có thể dùng để đo lường cái Tâm Nguyên Thủy thật
sự, quả thật không có ǵ mà ta có thể dùng để hiểu biết nó. Trong
trạng thái thiên nhiên tâm không chao động, không di chuyển. Khi
hạnh phúc phát sanh, tâm bị lạc lối trong cảm xúc. Có sự di
chuyển, tâm chao động. Khi tâm xúc động như vậy, t́nh trạng bám
níu vào niềm vui thích ấy phát sanh.
Đức Phật đă vạch ra Con Đường và giáo truyền
đầy đủ pháp hành để chúng ta tiến bước trên đó, nhưng chúng ta
không thực hành hoặc chỉ thực hành bằng lời nói. Tâm và lời nói
của chúng ta không điều hợp với nhau. Chúng ta chỉ lợi dưỡng trong
cuộc đàm thoại rỗng không. Nhưng nền tảng của Phật Giáo không phải
là cái ǵ có thể luận bàn suông, hay ức đoán. Nền tảng thật sự của
Phật Giáo là thấu triệt trọn vẹn chân lư của thực tại. Nếu đă thấu
đạt chân lư ấy rồi th́ không cần ǵ đến giáo huấn. C̣n nếu không
thấu hiểu chân lư th́ dầu có lắng nghe bao nhiêu lời dạy, vẫn
không thật sự là nghe. Đó là lư do tại sao Đức Phật dạy: "Bậc Toàn
Giác chỉ rọi sáng Con Đường." Ngài không thể thực hành cho quư vị,
bởi v́ chân lư là cái ǵ không thể diễn đạt bằng lời nói, mà cũng
không thể biếu tặng cho ai.
Tất cả những lời
dạy chỉ là những câu chuyện ngụ ngôn và những thí dụ nhằm giúp cho
tâm thấu hiểu chân lư. Nếu không thấy chân lư ắt chúng ta phải đau
khổ. Thí dụ như chúng ta thường nói "sankhàra", pháp hữu vi, khi
đề cập đến cơ thể vật chất. Bất luận ai cũng có thể nói như vậy.
Nhưng trong thực tế chúng ta vẫn bị khó khăn, v́ chúng ta không
thấu hiểu chân lư của "các pháp hữu vi" và do đó, bám níu chặt chẽ
vào. V́ không thấu đạt trọn vẹn chân lư của thân nên chúng ta đau
khổ.
Sau đây là một thí
dụ. Buổi sáng nọ, khi quư vị đang rảo bước trên đường đến sở làm
th́ từ lề bên kia đường có người la to, chưởi mắng quư vị thậm tệ.
Vừa khi nghe tiếng chưởi ḿnh th́ tâm quư vị liền biến đổi, không
c̣n ở t́nh trạng b́nh thường. Quư vị cảm nghe không thoải mái, tự
thấy ḿnh bị xúc phạm, và nổi giận. Người kia cứ đi quanh quẩn,
đêm ngày chưởi mắng quư vị. Khi nghe tiếng la chưởi th́ quư vị tức
giận. Chí đến khi về nhà rồi, quư vị vẫn c̣n cảm nghe sân hận, có
ư muốn trả đủa, làm một điều ǵ để trả thù.
Vài ngày sau đó,
một người khác đến gặp quư vị và nói, "Ông ơi! Người mà hôm nọ
chưởi mắng ông ngoài đường là một người mất trí, anh ta điên! Đă
nhiều năm rồi anh ấy điên như vậy. Cứ đi ngoài đường chưởi mắng
mọi người. Không ai màng để ư đến những ǵ anh ta nói." Được nghe
giải thích như vậy th́ quư vị cảm thấy nhẹ nhàng. Bao nhiêu phiền
giận và khó chịu mà quư vị mang trong ḷng từ mấy ngày qua hoàn
toàn tan biến. Tại sao? Bởi v́ giờ đây quư vị đă thấu hiểu chân lư
của vấn đề. Trước kia quư vị không hiểu, nghĩ rằng người kia b́nh
thường nên giận anh ta. V́ không thấu hiểu nên quư vị nổi giận.
Vừa khi t́m ra chân lư th́ mọi việc đều thay đổi, "ờ, người ấy
điên! Điều nầy giải thích mọi việc!" Khi đă thấu hiểu vấn đề, quư
vị cảm nghe thoải mái dễ chịu trở lại. Quư vị đă tự ḿnh thấu
hiểu. Đă thấu hiểu, quư vị liền buông bỏ, không chấp vào đó nữa.
Nếu không hiểu biết ắt quư vị sẽ bám níu, dính mắc ngay vào đó.
Nghĩ rằng anh chàng chưởi mắng kia là b́nh thường th́ quư vị phát
sân lên và có thể sát hại anh ta. Nhưng khi đă hiểu được chân lư,
biết rằng anh ta chỉ là người điên th́ quư vị cảm nghe thoải mái
dễ chịu hơn nhiều. Thấu hiển chân lư là như vậy.
Người đă chứng ngộ
Giáo Pháp cũng có những kinh nghiệm tương tợ. Khi tham, sân và si
tan biến, nó cũng tan biến cùng thế ấy. Ngày nào c̣n chưa hiểu
biết tường tận chúng ta nghĩ, "Ta có thể làm ǵ được bây giờ? Tham
và sân của ta đă quá nhiều." Đó là không thấu hiểu rơ ràng. Cũng
như khi ta nghĩ rằng anh chàng kia là người tỉnh trí. Khi cuối
cùng, đă thấy rơ anh ta là người điên th́ bao nhiêu âu lo đều tan
biến. Không ai có thể chỉ cho quư vị. Chỉ khi nào tự tâm của quư
vị nhận thức rơ ràng, nó mới có thể bứng tận gốc rễ tham, sân và
không c̣n bám níu.
Đối với thân nầy mà chúng ta gọi là pháp hữu vi
(sankhàra) cũng vậy. Mặc dầu Đức Bổn Sư đă giải thích rành mạch
rằng không có một thực thể hay một chúng sanh thật sự có thực
chất, chúng ta vẫn c̣n chưa chấp nhận và vẫn c̣n ngoan cố bám chắc
vào nó. Nếu thân có thể nói, hằng ngày nó sẽ th́ thầm với ta rằng,
"Ông không phải là chủ của tôi, ông biết không? Tôi không thuộc
quyền sở hữu của ông đâu." Trong thực tế, nó vẫn luôn luôn nói với
ta như vậy, nhưng đó là ngôn ngữ của Giáo Pháp nên ta không thể
lănh hội. Thí dụ như mắt, tai, mũi, lưỡi và thân nầy luôn luôn
biến đổi nhưng nào có xin phép ta bao giờ! Đôi khi chúng ta đau
bụng hay nhức đầu. Có lần nào cơ thể nầy xin phép ta trước không?
Nó chỉ diễn tiến theo con đường thiên nhiên của nó. Điều nầy nói
lên rằng thân nầy không để cho ai làm chủ nó. Nó không có chủ. Đức
Phật mô tả nó như một vật rỗng không.
Chúng ta không
thông hiểu Giáo Pháp và do đó, không thông hiểu các pháp hữu vi.
Ta nhận nó là chúng ta, là sở hữu của ta, hay của ai khác. Đó là
nguyên nhân tạo nên luyến ái. Ta tŕu mến, bám sát, níu chắc vào
nó (Thủ). Khi Thủ phát sanh th́ Hữu, sự trở thành, đi liền theo.
Một khi Hữu phát sanh ắt có Sanh. Có Sanh tức có Lăo, có Bệnh, có
Tử ... và toàn thể khối đau khổ phát sanh. Đó là Paticcasamuppàda,
chuỗi dài những ṿng khoen của Thập Nhị Nhân Duyên. Chúng ta nói
Vô Minh tạo duyên cho Hành phát sanh, rồi cả hai tạo duyên cho
Thức v.v... Tất cả những điều ấy chỉ đơn giản là những diễn biến
trong tâm. Khi xúc chạm với điều ǵ mà ta không ưa thích, nếu
không có chánh niệm th́ Vô Minh ở ngay tại đó. Đau khổ tức khắc
phát sanh. Tuy nhiên, tâm vượt xuyên qua những biến đổi ấy nhanh
chóng đến độ ta không theo dơi kịp. Cũng giống như khi ta rơi từ
ngọn cây xuống đất. Sự thật là từ ngọn cây xuống đất ta va chạm
bao nhiêu cành to và bao nhiêu nhánh nhỏ, nhưng ta không thể đếm,
không thể nhớ hết những cành nhánh ấy. Chỉ hụt tay, rồi từ trên
cao rơi xuống, "phịt!".
Pháp Thập Nhị Nhân
Duyên cũng cùng thế ấy. Nếu phân chia như trong kinh điển th́ ta
nói rằng Vô Minh tạo duyên cho Hành phát sanh, Hành tạo duyên cho
Thức phát sanh, Thức tạo duyên cho Danh-Sắc phát sanh, Danh-Sắc
tạo duyên cho Lục Căn phát sanh, Lục Căn tạo duyên cho Xúc phát
sanh, Xúc tạo duyên cho Thọ phát sanh, Thọ tạo duyên cho Ái phát
sanh, Ái tạo duyên cho Thủ phát sanh, Thủ tạo duyên cho Hữu phát
sanh, Hữu tạo duyên cho Sanh phát sanh, Sanh tạo duyên cho Lăo,
Bệnh, Tử và tất cả những h́nh thức sầu muộn. Nhưng trong thực tế,
khi quư vị xúc chạm với điều ǵ ḿnh không ưa thích tức khắc có
đau khổ! Cảm giác đau khổ ấy thật sự là hậu quả của toàn thể những
ṿng khoen của Thập Nhị Nhân Duyên. Đó là lư do tại sao Đức Bổn Sư
kêu gọi hàng môn đệ nên quán chiếu và thấu đạt trọn vẹn tâm ḿnh.
Khi bước chân vào
đời, con người không có danh tánh -- sanh ra rồi mới được đặt tên.
Đó là quy ước. Chúng ta đặt tên, cho mỗi người một danh tánh, để
tiện việc kêu gọi nhau. Kinh điển cũng vậy. Chúng ta phân chia sự
vật và dán nhăn hiệu lên để tiện việc nghiên cứu sự vật. Tất cả
mọi sự vật chỉ giản dị là những pháp hữu vi, sankhàra. [6] Bản
chất cơ bản của vạn pháp chỉ là những sự vật phát sanh và hiện hữu
do nhân duyên. Đức Phật dạy rằng nó là Vô Thường, Khổ, và Vô Ngă.
Nó không ổn định, không thường c̣n. Chúng ta không hiểu biết như
vậy một cách chắc chắn. Kiến thức của ta không vững vàng. Do đó
chúng ta mang nặng Tà Kiến. Tà Kiến đây là chấp rằng pháp hữu vi
là chính ta, ta là pháp hữu vi, hoặc chấp hạnh phúc và đau khổ là
chính ta, ta hạnh phúc, ta đau khổ. Nhận thức như vậy là không
hiểu biết trọn vẹn và rơ ràng bản chất thật sự của vạn pháp. Chân
lư là chúng ta không thể cưỡng bách các sự vật ấy theo đúng ư muốn
của ḿnh. Nó chỉ theo con đường của Thiên Nhiên.
Sau đây là một thí
dụ đơn giản. Như quư vị ra giữa một xa lộ nhộn nhịp xe cộ và ngồi
ngay tại đó trong khi những chiếc xe lớn, xe nhỏ chạy trờ tới đâm
thẳng vào quư vị. Quư vị không thể tức giận xe cộ và quát to, "Chớ
có chạy đến đây! Đừng chạy lại đây!" Đó là một xa lộ. Quư vị không
thể nói vậy với họ! Vậy th́ quư vị phải làm ǵ? -- Phải vào lề
đường để tránh xe. Xa lộ là nơi để cho xe cộ chạy, nếu muốn không
có xe trên đường ắt quư vị phải đau khổ.
Với các pháp hữu
vi cũng cùng thế ấy. Chúng ta nói rằng nó quấy rầy. Như lúc ḿnh
ngồi thiền mà có tiếng động, ta nghĩ rằng, "ồ, tiếng động nầy quấy
rầy ta quá!" Nếu hiểu rằng tiếng động quấy rầy ta, th́ ta sẽ đau
khổ v́ nó. Quán chiếu vào sâu hơn nữa, ta sẽ thấy rằng chính ta đi
ra ngoài và quấy rầy tiếng động! Tiếng động chỉ giản dị là tiếng
động. Thông hiểu như vậy th́ không có ǵ hơn nữa. Hăy để nó là
vậy. Hăy nhận thức rằng âm thanh là một việc, ta là một việc khác.
Người mà thấy rằng âm thanh đến để khuấy nhiễu ḿnh là người không
tự thấy ḿnh. Người ấy thật sự không tự thấy ḿnh! Một khi tự thấy
ḿnh ắt quư vị sẽ thoải mái dễ chịu. Âm thanh chỉ là âm thanh, tại
sao quư vị phải chạy đi đâu để nắm bắt nó lại? Quư vị thấy rằng
trong thực tế chính quư vị đi ra ngoài để khuấy rầy âm thanh. Đó
là thật sự hiểu biết chân lư. Quư vị thấy được cả hai phía, và nhờ
thấy hai bề, quư vị an lạc. Nếu chỉ thấy một bên ắt có đau khổ.
Khi thấy hai phía, quư vị theo con đường ở khoảng giữa, Trung Đạo.
Đó là pháp hành chân chánh, là chánh pháp. Điều đó được gọi là
"làm cho sự hiểu biết của ḿnh được ngay thẳng".
Cùng một thế ấy,
bản chất của tất cả các pháp hữu vi là vô thường và phải biến đổi.
Nhưng chúng ta khát khao bám níu, cố nắm cho được. Chúng ta mang
nó đi đầu nầy đầu nọ và luôn luôn thèm muốn. Chúng ta muốn nó là
thật. Chúng ta muốn t́m sự thật trong những sự vật không thật! Bất
luận khi nào có ai nhận thức như vậy và bám níu vào các pháp hữu
vi, tự đồng hóa ḿnh với nó, chắc rằng nó là ḿnh, ḿnh là nó,
người ấy đương nhiên phải đau khổ. Đức Phật dạy ta hăy quán tưởng
sự việc nầy.
Muốn thực hành
Giáo Pháp, không cần phải là tỳ khưu, sa di, hoặc một cư sĩ tại
gia mà cần phải làm cho sự hiểu biết của ḿnh được chân chánh,
ngay thẳng, đúng đắn. Hiểu biết chân chánh, chúng ta sẽ thành đạt
an lạc thanh b́nh. Dầu xuất gia cùng không, mọi người đều có cơ
may để thực hành Giáo Pháp, để quán niệm Giáo Pháp. Tất cả chúng
ta đều quán niệm như nhau. Nếu chúng ta thành đạt an lạc, tất cả
đều là một thứ an lạc. Tất cả cùng đi trên một Con Đường, cùng
theo một pháp hành.
Đức Phật không có sự phân chia nào giữa hàng cư
sĩ và các bậc xuất gia. Ngài dạy tất cả mọi người pháp hành để
thấu triệt chân lư của các pháp hữu vi, sankhàra. Đă thông hiểu
chân lư ấy ta sẽ buông bỏ, để cho tất cả trôi qua như nước lăn
trôi trên lá sen. Đă thông hiểu chân lư ấy ắt không c̣n "Hữu" và
"Sanh". V́ sao không c̣n Sanh nữa? Hiện tượng sanh không c̣n cách
nào để xảy diễn v́ ta đă thấu triệt đầy đủ chân lư của các pháp
hữu vi. Đă thông hiểu chân lư ấy một cách toàn vẹn ắt có an lạc.
Có hay không có cũng vậy. Lợi lạc và mất mát là một. Đức Phật dạy
ta nên hiểu như vậy. Đó là an lạc. An lạc vượt ra khỏi hạnh phúc,
đau khổ, vui thích và sầu muộn.
Chúng ta phải thấy
rằng không có lư do ǵ để được sanh. Sanh ra cách nào? Sanh ra
trong niềm vui! Khi thành đạt điều ưa thích th́ ta vui mừng. Nếu
không luyến ái, không bám níu vào niềm vui ấy ắt không c̣n tái
sanh. Chính sự bám níu được gọi là sanh. Không có "Thủ" ắt không
có "Sanh". Như vậy, nếu đạt được ǵ ta không sanh (vào trạng thái
thỏa thích vui mừng). Nếu mất ǵ, ta không sanh (vào phiền muộn).
Đó là vô sanh và bất diệt. Cả hai, sanh và tử đều bắt nguồn và đặt
nền tảng trên "Ái" và "Thủ", ḷng khát khao ham muốn và luyến ái,
cố bám vào các pháp hữu vi.
Do đó Đức Phật
dạy, "Như Lai không c̣n trở thành (Hữu) nữa, đời sống thánh thiện
đă chấm dứt, đây là kiếp sống cuối cùng của Như Lai." Đó! Ngài đă
thông hiểu trạng thái vô sanh và bất diệt! Đó là điều mà Đức Bổn
Sư không ngớt kêu gọi hàng môn đệ nên thấu hiểu. Đó là Pháp Hành
Chân Chánh. Nếu quư vị không đạt đến đó, nếu quư vị không đạt đến
Trung Đạo, ắt quư vị chưa vượt qua khỏi đau khổ.
An lạc vượt ngoài
thế gian
... Hành thiền
là làm cho tâm an lạc nhằm tạo duyên cho trí tuệ phát sanh ...
Thâu gọn lại, đó là vấn đề hạnh phúc và đau khổ. Hạnh phúc là
cảm thọ hoan hỷ trong tâm, đau khổ chỉ là cảm giác không thoải
mái. Đức Phật dạy nên tách rời hạnh phúc và đau khổ ra khỏi tâm
...
Thực hành Giáo
Pháp là công tŕnh vô cùng quan trọng. Nếu không có pháp hành tất
cả hiểu biết của chúng ta chỉ là hiểu biết trên bề mặt, chỉ hiểu
biết cái vỏ bề ngoài. Cũng giống như ta có một loại trái cây nhưng
chưa bao giờ ăn đến. Mặc dầu trái cây sẵn có trong tay, nhưng ta
không hưởng lợi ích của nó. Chỉ bằng cách thật sự có ăn ta mới cảm
nhận được mùi vị của trái.
Đức Phật không ca ngợi những ai chỉ tin tưởng
suông nơi người khác. Ngài tán dương người hiểu biết bên trong
chính ḿnh. Cũng như trái cây kia, nếu ta đă có nếm qua rồi th́
không cần phải hỏi ai khác cũng đủ biết nó chua hay ngọt thế nào.
Vấn đề của ta đă chấm dứt. Tại sao đă chấm dứt? Bởi v́ ta đă thấy
đúng theo chân lư. Người đă chứng ngộ chân lư cũng như người kinh
nghiệm vị chua hay ngọt của trái cây. Tất cả mọi hoài nghi đều
chấm dứt, ngay tại đây.
Mặc dầu khi đề cập
đến Giáo Pháp ta có thể thuyết tŕnh dài ḍng nhưng thông thường
tất cả chỉ giản dị bao gồm bốn điều là: hiểu biết Đau Khổ, hiểu
biết Nguyên Nhân sanh Đau Khổ, hiểu biết sự Chấm Dứt Đau Khổ, và
hiểu biết Con Đường dẫn đến Chấm Dứt Đau Khổ. Tất cả chỉ có thế.
Tất cả những ǵ mà ta chứng nghiệm trên con đường thực hành, đến
đây chỉ keo gọn lại thành bốn điểm ấy. Khi đă trọn vẹn hiểu biết
cả bốn, vấn đề của chúng ta đă chấm dứt.
Bốn điều ấy phát
sanh từ đâu? Nó chỉ phát sanh từ bên trong thân và tâm nầy, không
đâu khác. Vậy tại sao Giáo Pháp do Đức Phật ban truyền lại mênh
mông rộng răi như thế ấy? Đó là v́ Ngài muốn giải thích một cách
vi tế với nhiều chi tiết, nhằm giúp chúng ta lănh hội đầy đủ bốn
điểm ấy.
Khi Thái tử
Siddhartha Gotama được sanh vào đời và trước khi chứng ngộ Giáo
Pháp, Ngài chỉ là một người thường như chúng ta. Đến khi thông
hiểu những ǵ cần phải hiểu, tức chân lư về Đau Khổ (Khổ Đế), về
Nguyên Nhân sanh Khổ (Tập Đế), về sự Chấm Dứt Đau Khổ (Diệt Đế),
và về Con Đường dẫn đến Chấm Dứt Đau Khổ (Đạo Đế) th́ Ngài chứng
ngộ Giáo Pháp và trở thành Đức Phật Toàn Giác.
Khi đă chứng ngộ
Giáo Pháp th́ bất luận nơi nào mà ta ngồi, ta luôn luôn thông hiểu
Giáo Pháp, bất luận nơi chốn nào mà ta ở, ta luôn luôn nghe lời
dạy của Đức Phật. Khi ta thông hiểu Giáo Pháp, Đức Phật luôn luôn
ngự bên trong tâm ta, Giáo Pháp luôn luôn ở bên trong tâm ta, và
pháp hành dẫn đến trí tuệ nằm bên trong tâm ta. Được Đức Phật, Đức
Pháp và Đức Tăng ngự trong tâm có nghĩa là dầu hành động của chúng
ta thiện hay bất thiện, chúng ta vẫn luôn luôn tự ḿnh hiểu biết
bản chất thật sự của nó. Cũng do vậy mà Đức Phật đă gạt bỏ dư luận
của thế gian. Ngài gạt bỏ ngoài tai những lời tán dương hay chỉ
trích, và chỉ chấp nhận nó là vậy. Dầu chỉ trích hay tán dương
cũng chỉ là thế gian pháp, không thể làm cho Ngài chao động. Tại
sao? Bởi v́ Ngài thấu triệt bản chất của Đau Khổ. Ngài thấu hiểu
rằng nếu tin theo những lời tán dương hay chỉ trích th́ nó sẽ là
nguyên nhân sanh đau khổ.
Khi đau khổ khởi
sanh th́ nó làm cho ta chao động, cảm nghe không thoải mái. Nguyên
nhân của đau khổ ấy là ǵ? Là bởi v́ chúng ta không thấu hiểu Chân
Lư, đó là nguyên nhân. Khi nguyên nhân hiện hữu th́ đau khổ phát
sanh. Một khi đau khổ phát sanh th́ ta không biết phải làm thế nào
để ngưng nó lại. Ta càng cố gắng chận đứng th́ nó càng lấn lướt
xông đến. Ta nói, "Chớ có chỉ trích tôi!" hoặc "Đừng chỉ trích
tôi". Cố gắng chận đứng như vậy ắt đau khổ sẽ thật sự sự xông đến,
không ngừng.
Do đó Đức Phật dạy
rằng con đường dẫn đến chấm dứt đau khổ là làm cho Giáo Pháp thật
sự phát sanh trong tâm của chúng ta. Ta trở thành người chứng ngộ
Giáo Pháp. Nếu có ai khen ta tốt, ta không để bị lạc lối trong lời
khen. Người ta chê ḿnh không tốt, ḿnh không tự quên ḿnh. Làm
như vậy ta hoàn toàn tự do, không dính mắc. "Tốt" và "xấu" chỉ là
thế gian pháp -- những sự vật trong thế gian trần tục. Nó chỉ là
những trạng thái tâm. Nếu ta chạy theo nó th́ tâm ta trở thành thế
gian. Ta chỉ mù mờ ṃ mẫm trong đêm tối mà không biết lối thoát.
Làm như thế ắt chúng ta không tự chủ, không làm chủ lấy ḿnh. Ta
cố gắng chiến thắng kẻ khác, nhưng hành động như vậy ta chỉ chiến
thắng chính ta. Trái lại, nếu tự ḿnh làm chủ lấy ḿnh ta sẽ chủ
động trong tất cả, sẽ làm chủ tất cả -- tất cả những tâm sở, tất
cả sắc, thinh, hương, vị, và xúc.
Hiện giờ Sư đang
đề cập đến bên ngoài, nó là vậy. Nhưng bề ngoài cũng ảnh hưởng đến
bên trong. Vài người chỉ biết bề ngoài, họ không biết bên trong.
Như khi ta nói, "Nh́n thân trong thân". Nh́n thấy phía bên ngoài
th́ không đủ, ta phải hiểu biết thân bên trong cái thân. Và khi
quán chiếu tâm, ta phải hiểu biết tâm bên trong cái tâm.
Tại sao phải quán
chiếu thân? "Thân bên trong thân" là ǵ? Khi nói, phải hiểu biết
tâm, cái "tâm" ấy là ǵ? Nếu không hiểu biết tâm ắt không hiểu
biết những ǵ bên trong tâm. Đó là làm người không hiểu biết Đau
Khổ, không hiểu biết Nguyên Nhân sanh Đau Khổ, không hiểu biết sự
Chấm Dứt Đau Khổ và Con Đường dẫn đến sự Chấm Dứt Đau Khổ. Những
ǵ có khả năng giúp ta dập tắt đau khổ sẽ không thể giúp, bởi v́
ta xao lăng, bị lạc lối trong những ǵ chỉ làm cho đau khổ càng
thêm trầm trọng. Cũng như người bị ngứa trên đầu mà găi dưới chân!
Nếu ta bị ngứa trên đầu mà chỉ găi dưới chân th́ tác động găi ấy
rơ ràng không thể làm cho ta bớt ngứa. Cùng thế ấy, khi đau khổ
phát sanh chúng ta không biết phải đối phó thế nào, không biết
pháp hành dẫn đến chấm dứt đau khổ.
Thí dụ như thân
nầy, cái thân nầy mà mỗi người chúng ta mang theo đến buổi hợp mặt
hôm nay. Nếu chúng ta chỉ thấy h́nh thể bên ngoài của thân th́
không có cách nào lẫn thoát ra khỏi đau khổ. Tại sao? Bởi v́ chúng
ta vẫn chưa thấy được bên trong của thân, chỉ thấy bề ngoài. Ta
chỉ thấy nó là cái ǵ xinh đẹp, cái ǵ có thực chất. Đức Phật dạy
rằng bấy nhiêu đó không đủ. Bằng mắt, chúng ta thấy bề ngoài của
cái thân. Một em bé cũng có thể thấy như vậy, không có ǵ khó.
Thấy bề ngoài của thân th́ quả thật là dễ, nhưng khi thấy rồi ta
bị dính mắc, kẹt luôn trong đó. Ta không thông hiểu chân lư của
nó, không hiểu biết thật sự nó là thế nào. Thấy, rồi ta liền chụp
lấy và nắm chặt, rồi bị nó cắn!
Như vậy, phải quán
chiếu thân bên trong thân. Bất luận ǵ ở bên trong thân, ta hăy
nh́n vào. Nếu chỉ nh́n bề ngoài ta không thấy rơ. Ta thấy tóc,
lông, móng tay, móng chân v.v... và cho đó là những ǵ đẹp đẽ, có
sức quyến rũ. Do đó Đức Phật dạy nên nh́n sâu vào bên trong thân,
nh́n thân trong thân. Bên trong thân có ǵ? Hăy nh́n tận tường,
nh́n thật kỷ vào bên trong! Có nhiều cái sẽ làm cho ta ngạc nhiên
bởi v́ mặc dầu nó ở ngay bên trong ta, chúng ta không bao giờ
thấy. Mỗi khi đi đâu là ta mang nó theo, ngồi trên xe ta cũng mang
theo, vậy mà ta vẫn không biết nó chút nào!
Cũng như ta đến
nhà viếng một người bà con, và họ cho ta một món quà. Ta nhận lấy
quà, cất giữ trong bị, rồi ra về mà không dở ra xem trong đó có
ǵ. Khi cuối cùng về đến nhà, dở ra ... th́ đấy là con rắn độc!
Thân của ta cũng dường thế ấy. Nếu chỉ nh́n cái vỏ bề ngoài, ta
nói rằng nó xinh tươi đẹp đẽ. Chúng ta tự quên ḿnh. Chúng ta quên
lư Vô Thường, Khổ và Vô ngă. Nếu thận trọng nh́n vào bên trong
thân nầy th́ quả thật là đáng nhờm chán. Nếu chúng ta nh́n thấy
đúng thực tại, không có dậm muối hay thêm đường, không tô điểm cho
nó, th́ ta sẽ thấy rằng thật sự nó đáng thương hại và đáng chán.
Ta sẽ không c̣n luyến ái, bám níu vào thân nầy. Cảm giác "không
tŕu mến" ấy không có nghĩa là ta cảm nghe hờn giận thế gian hoặc
phiền trách bất cứ ai, hay bất luận ǵ. Chỉ giản dị là cái tâm của
ta sáng tỏ ra và buông bỏ. Chúng ta nhận thấy rằng sự vật không có
chi là thực chất, không có chi mà ta có thể ỷ lại vào. Nhưng tất
cả mọi sự vật đă là vậy, bản chất của thiên nhiên chỉ là vậy. Dầu
ta có muốn nó như thế nào, nó chỉ đi theo con đường của nó. Dầu ta
cười, dầu ta khóc, nó vẫn giản dị như thế nào đúng như nó là vậy.
Sự vật nào không bền vững và ổn định th́ nó không ổn định vững
bền. Sự vật nào không đẹp đẽ xinh tươi th́ nó không xinh tươi đẹp
đẽ.
Do đó Đức Phật dạy
rằng khi chứng nghiệm sắc, thinh, hương, vị, xúc, hay pháp, ta hăy
buông thả nó ra. Khi tai nghe âm thanh, hăy để cho nó qua. Khi mũi
hửi mùi, hăy để cho nó qua ... chỉ bỏ nó ở lại mũi. Khi cảm giác
xúc chạm của thân phát sanh, hăy buông bỏ cảm xúc ưa thích hay
ghét bỏ theo liền đó, hăy để cho nó trở về nguyên quán. Tư tưởng
phát sanh cũng vậy. Tất cả những hiện tượng ấy, hăy để cho nó đi
theo con đường của nó. Đó là hiểu biết. Dầu hạnh phúc hay đau khổ,
tất cả đều như nhau. Đó là hành thiền.
Hành thiền có
nghĩa là làm cho tâm an lạc nhằm tạo duyên cho trí tuệ phát sanh.
Công tŕnh nầy đ̣i hỏi phải thực hành với thân và tâm để trông
thấy và hiểu biết những cảm xúc phát sanh do sắc, thinh, hương,
vị, xúc, pháp. Thâu gọn lại, nó chỉ là vấn đề hạnh phúc và đau
khổ. Hạnh phúc là hoan hỷ thỏa thích trong tâm. Đau khổ là cảm
giác khó chịu, không thoải mái. Đức Phật dạy nên tách rời hạnh
phúc và đau khổ ấy ra khỏi tâm. Tâm là cái ǵ hiểu biết. Thọ
(vedanà) là đặc tánh của hạnh phúc và đau khổ, thương và ghét.
(Danh từ "thọ" ở đây được phiên dịch từ Phạn ngữ vedanà, và nên
được hiểu trong ư nghĩa mà Ngài Ajahn Chah mô tả nơi đây; như
những tâm sở ưa thích, ghét bỏ, vui buồn v.v ...) Khi tâm dể duôi,
tự buông trôi theo những cảm xúc ấy ta nói rằng nó bám níu vào,
hoặc chấp rằng hạnh phúc và đau khổ đáng được nắm giữ. Bám níu,
hay "thủ" ấy là một sinh hoạt của tâm, c̣n hạnh phúc và đau khổ là
thọ.
Khi nói rằng Đức
Phật dạy nên tách rời tâm ra khỏi thọ, không có nghĩa là vứt bỏ nó
ở một nơi nào. Ngài muốn dạy rằng tâm phải hiểu biết hạnh phúc và
hiểu biết đau khổ. Thí dụ như khi tọa thiền, trong trạng thái
định, tâm thấm nhuần an lạc th́ hạnh phúc đến, nhưng không để vào
tâm, đau khổ đến, nhưng không để vào tâm. Đó là tách rời thọ và
tâm. Ta có thể ví như nước và dầu trong một cái lọ. Nó không ḥa
tan. Mặc dầu có muốn trộn lộn hai thứ, dầu vẫn ra dầu và nước vẫn
ra nước. Tại sao vậy? V́ trọng lượng khác nhau.
Trạng thái thiên
nhiên của tâm là không hạnh phúc, không đau khổ. Khi thọ nhập vào
th́ hoặc hạnh phúc, hoặc đau khổ phát sanh. Nếu có niệm, ta nhận
biết thọ lạc là thọ lạc. Cái tâm hiểu biết không "bốc" nó lên.
Hạnh phúc có đó, nhưng nó "ở ngoài", không đắm ch́m trong tâm. Tâm
chỉ hiểu biết rơ ràng.
Tách rời đau khổ
ra khỏi tâm. Phải chăng điều nầy có nghĩa là không c̣n đau khổ,
rằng ta không c̣n kinh nghiệm đau khổ nữa? Không phải vậy, ta vẫn
c̣n kinh nghiệm đau khổ, nhưng lúc bấy giờ ta hiểu biết tâm là
tâm, thọ là thọ. Ta không bám chặt vào thọ cảm đau khổ ấy và mang
nó đi theo ḿnh. Đức Phật tách rời những trạng thái ấy bằng tuệ
giác. Ngài có đau khổ không? Ngài biết có trạng thái đau khổ,
nhưng không bám giữ. Do vậy ta nói rằng Ngài cắt đứt đau khổ. Và
khi có hạnh phúc, Ngài hiểu biết đó chỉ là hạnh phúc. Ngài không
nắm giữ nó lại và cho rằng nó là ḿnh. Xuyên qua trí tuệ, hiểu
biết rằng có hạnh phúc hiện hữu, nhưng hạnh phúc không ở trong
tâm. Vậy ta nói rằng Ngài tách rời hạnh phúc và đau khổ ra khỏi
tâm.
Nói rằng Đức Phật
và chư vị A La Hán diệt trừ ô nhiễm không có nghĩa là các Ngài
thật sự giết chết ô nhiễm. [7] Nếu các Ngài đă giết chết tất cả
những ô nhiễm th́ có lẽ chúng ta không c̣n ô nhiễm nào! Các Ngài
không giết chết. Khi hiểu biết thực tướng của nó, hiểu đúng như nó
là vậy, các Ngài buông bỏ, để cho nó đi qua. Người điên rồ sẽ nắm
giữ nó lại, nhưng các bậc Giác Ngộ đă thấu hiểu rằng ô nhiễm trong
tâm là thuốc độc nên liền quét sạch nó đi. Các Ngài quét sạch
những ǵ là nguyên nhân tạo đau khổ chớ không giết chết. Người
không thấu hiểu như vậy sẽ thấy những ǵ như hạnh phúc là tốt đẹp
và nắm chắc, giữ chặt nó lại (thủ), nhưng Đức Phật chỉ hiểu biết
nó và giản dị tẩy sạch nó đi.
Nhưng đối với
chúng ta, khi thọ phát sanh th́ ta lợi dưỡng trong đó, có nghĩa là
tâm của ta mang hạnh phúc và đau khổ theo cùng với nó. Trong thực
tế, tâm và hạnh phúc hay đau khổ là hai sự việc khác nhau. Những
sinh hoạt của tâm: thọ lạc, thọ khổ v.v... là những cảm xúc. Nó là
thế gian pháp. Nếu tâm hiểu biết như vậy th́ dầu hạnh phúc hay đau
khổ, tâm vẫn xem như nhau và phản ứng cùng một cách. Tại sao? Bởi
v́ tâm hiểu biết chân lư của sự vật. Người không thông hiểu sẽ
thấy hạnh phúc và đau khổ có hai giá trị khác biệt, nhưng người đă
thấu hiểu sẽ thấy nó như nhau. Nếu quư vị bám chặt vào hạnh phúc
th́ nó sẽ là nơi phát sanh đau khổ về sau, bởi v́ nó không ổn định
vững bền mà luôn luôn biến chuyển. Khi hạnh phúc tan biến ắt đau
khổ khởi sanh.
Đức Phật thấu triệt rằng bởi v́ cả hai, hạnh
phúc và đau khổ, đều là bất toại nguyện, tức đau khổ, nên cả hai
đều có giá trị bằng nhau. Khi hạnh phúc phát sanh, Ngài để nó trôi
qua. Ngài có pháp Hành Chân Chánh và thấy rằng cả hai đều có giá
trị và sức trở ngại bằng nhau. Cả hai đều nằm dưới sự chi phối của
Định Luật Thiên Nhiên, tức bất ổn định và bất toại nguyện. Sanh
rồi diệt. Khi thấy rơ như vậy Chánh Kiến phát sanh và pháp hành
chân chánh trở nên sáng tỏ. Bất luận cảm thọ hoặc tư tưởng nào
phát sanh, Ngài biết rơ rằng đó chỉ giản dị là tṛ đùa của hạnh
phúc và đau khổ luôn luôn tiếp diễn. Ngài không bám níu vào.
Khi Đức Phật mới
Thành Đạo, Ngài thuyết giảng một thời Pháp về Lợi Dưỡng trong Dục
Lạc và Lợi Dưỡng trong Đau Khổ, "Nầy chư Tỳ Khưu! Lợi Dưỡng trong
Dục Lạc là con đường dể duôi buông lung. Lợi Dưỡng trong Đau Khổ
là con đường căng thẳng." Đó là hai con đường đă làm trở ngại pháp
hành của Ngài chí đến ngày chứng ngộ Đạo Quả, bởi v́ trước đó Ngài
không buông bỏ cho nó trôi qua. Khi đă thấu hiểu, Ngài để cho nó
trôi qua và do đó mới có thể ban truyền Bài Pháp Đầu Tiên.
Như vậy chúng ta
nói rằng người hành thiền không nên đi trên con đường của hạnh
phúc và đau khổ, mà phải thấu hiểu bản chất của nó. Thấu hiểu chân
lư của Đau Khổ hành giả sẽ thấu hiểu Nguyên Nhân sanh Đau Khổ, sự
Chấm Dứt Đau Khổ và Con Đường dẫn đến Chấm Dứt Đau Khổ. Và con
đường dẫn thoát ra khỏi Đau Khổ chính là pháp môn hành thiền. Nói
một cách khác, ta phải luôn luôn giữ chánh niệm.
Niệm là hay biết,
hay có tâm hiện hữu. Ngay trong giờ phút nầy chúng ta đang nghĩ
ǵ, chúng ta đang làm ǵ? Điều ǵ xảy đến ta trong hiện tại? Chúng
ta quán chiếu như vậy, luôn luôn hay biết ta đang sống như thế
nào. Trong khi thực hành như vậy trí tuệ có thể phát sanh. Lúc nào
chúng ta cũng đang suy niệm và quán chiếu, trong mọi oai nghi đi,
đứng, nằm, ngồi. Khi một cảm giác phát sanh mà ta ưa thích, hăy
hay biết đúng như vậy, nhưng chúng ta không giữ nó lại như một cái
ǵ có thực chất. Chỉ là hạnh phúc. Khi đau khổ phát sanh chúng ta
hiểu biết ngay rằng đó là Lợi Dưỡng trong Đau Khổ, không phải là
Con Đường của người hành thiền.
Đó là điều gọi là tách rời tâm ra khỏi thọ. Nếu
là sáng suốt, ta không bám níu vào mà để cho sự vật tự nhiên trôi
chảy. Chúng ta trở thành "người hiểu biết". Tâm và thọ cũng chỉ
như nước và dầu: cùng ở chung trong một cái lọ nhưng không ḥa
tan. Chí đến khi lâm bệnh hay đau nhức ta vẫn hiểu biết thọ là
thọ, tâm là tâm. Chúng ta hiểu biết những trạng thái đau đớn hay
thoải mái dễ chịu nhưng không tự ḿnh đồng hóa với chúng. Chúng ta
chỉ ở với thanh b́nh an lạc, sự an lạc thanh b́nh vượt lên trên cả
hai, thoải mái và đau khổ.
Quư vị phải thấu
hiểu như vậy, bởi v́ đă không có một tự ngă trường tồn ắt không có
chỗ nương tựa. Quư vị phải sống như vậy, tức sống không có hạnh
phúc và không có đau khổ. Quư vị chỉ sống với sự hiểu biết, không
bận bịu mang kè kè sự vật theo ḿnh.
Ngày nào mà chúng
ta chưa giác ngộ th́ tất cả những điều trên đây nghe h́nh như quái
lạ, nhưng không hề ǵ. Chúng ta chỉ nhắm hướng đi. Tâm là tâm. Tâm
sẽ hội kiến với hạnh phúc và đau khổ, và chúng ta chỉ nhận thấy
suông như vậy, ngoài ra không có ǵ khác. Tách rời riêng biệt,
không trộn lộn. Nếu tâm ta cùng với hạnh phúc và đau khổ pha lẫn
nhau, ắt chúng ta không hiểu biết chúng. Cũng giống như ta đang ở
trong một ngôi nhà; cái nhà và người ở trong nhà liên quan với
nhau, nhưng riêng biệt, không phải là một. Nếu nhà hư hỏng th́ ta
buồn phiền, v́ có bổn phận phải bảo vệ nhà cửa. Nhưng nếu nhà bị
hỏa hoạn, ta phải nhanh chân chạy thoát ra khỏi đó. Nếu cảm giác
đau khổ phát sanh ta phải thoát ra khỏi đó cũng như ta chạy thoát
ra khỏi căn nhà đang cháy. Nó là hai sự việc riêng biệt; nhà là
một việc, người ở trong nhà là việc khác.
Chúng ta nói rằng
tách rời tâm và thọ ra khỏi nhau, nhưng trong thực tế bản chất của
chúng là đă rời nhau. Sự nhận thức của chúng ta chỉ giản dị là
hiểu biết trạng thái tách rời khỏi nhau thiên nhiên ấy, đúng như
thực tại là vậy. Nói tâm và thọ không riêng biệt tách rời nhau là
bởi v́ do vô minh, chúng ta bám níu vào nó và v́ vậy, không thông
hiểu Chân Lư.
Do vậy Đức Phật
dạy ta hăy hành thiền. Pháp hành thiền vô cùng quan trọng. Chỉ
hiểu biết suông với kiến thức không đủ. Trí tuệ phát sanh do pháp
hành với tâm an lạc và kiến thức đến với ta bằng cách học hỏi,
nghiên cứu thật sự cách nhau xa biệt. Sự hiểu biết thâu thập bằng
cách học hỏi không phải là hiểu biết thật sự của tâm. Cái tâm chỉ
cố gắng bám chặt và giữ lại điều học hỏi hiểu biết ấy. Tại sao ta
cố gắng giữ lại? Chỉ để nó mất đi! Và khi nó mất ta than khóc.
Nếu thật sự hiểu
biết ắt sẽ không có t́nh trạng cố gắng giữ lại, mà cứ để nó tự
nhiên trôi qua, để cho sự vật tự nhiên, đúng như sự vật là vậy.
Chúng ta thấu hiểu sự vật là thế nào và không tự quên ḿnh. Nếu
không may lâm bệnh, chúng ta không để lạc lối trong đó. Vài người
nghĩ rằng, "Năm nay tôi bệnh suốt năm, không hành thiền được chút
nào." Đó là lời nói của người thật sự cuồng si. Người đang bệnh
hoặc sắp lâm chung càng phải chuyên cần tinh tấn hành thiền. Có
thể ta nói rằng người ấy không có th́ giờ để hành thiền. Người ấy
bệnh, người ấy đang bị đau nhức, người ấy không c̣n tin tưởng nơi
cơ thể ḿnh, và do đó cảm nghe rằng ḿnh không thể hành thiền. Suy
tư như vậy sự việc ắt trở nên khó khăn. Đức Phật không dạy như
vậy. Ngài dạy rằng ngay tại đây chính là nơi hành thiền. Khi lâm
trọng bệnh hoặc lâm chung là lúc mà ta có thể thật sự hiểu biết và
nhận thức thực tại.
Vài người khác nói
rằng họ không may mắn được hành thiền v́ luôn luôn có việc làm bận
rộn. Có vài vị giáo viên đến đây viếng Sư và nói rằng v́ đa đoan
với nhiệm vụ, họ không có th́ giờ để hành thiền. Sư hỏi họ, "Trong
khi dạy học Ông có th́ giờ để thở không? Họ trả lời, "Bạch Sư,
Có". "Nếu công việc bề bộn và đa đoan, làm thế nào Ông có th́ giờ
để thở. Nơi đây Ông đă rời xa Giáo Pháp."
Thật ra pháp hành
chỉ liên quan đến tâm và những cảm giác. Nó không phải là điều ǵ
mà quư vị phải chạy theo hoặc phải tranh đấu để được. Trong khi
làm việc ta vẫn thở. Chính thiên nhiên đă chăm lo để cho tiến
tŕnh thở-vào-và- thở-ra được tự nhiên -- tất cả những ǵ ta cần
phải làm chỉ là hay biết. Quư vị chỉ chuyên cần cố gắng, nh́n trở
lại vào bên trong và thấy rơ ràng. Hành thiền là vậy.
Nếu chúng ta giữ
tâm hiện hữu như vậy th́ bất luận trong công việc nào mà ta làm,
nó sẽ là dụng cụ hữu hiệu giúp ta luôn luôn hiểu biết điều nào là
phải và điều nào sai. Có rất nhiều th́ giờ để hành thiền, chỉ v́
ta không thông hiểu đầy đủ pháp hành. Chỉ có thế. Trong khi ngủ ta
thở, ăn ta thở, có phải vậy không? Tại sao không có th́ giờ để
hành thiền? Bất cứ ở đâu ta cũng thở. Nếu nghĩ như vậy th́ kiếp
sống của chúng ta có giá trị nhiều như hơi thở, bất luận ở đâu ta
cũng có th́ giờ.
Tất cả các loại tư
tưởng đều là những điều kiện tinh thần không thuộc về cơ thể, như
vậy ta chỉ cần giữ tâm hiện hữu và chừng ấy lúc nào chúng ta cũng
sẽ hiểu biết điều nào là phải, điều nào sai. Đi, đứng, nằm, ngồi,
có rất nhiều th́ giờ. Chỉ v́ ta không biết xử dụng một cách thích
nghi. Xin quư vị hăy suy xét lại.
Chúng ta không thể
bỏ chạy lẫn trốn những cảm giác, phải hiểu biết nó. Cảm giác hay
thọ, chỉ là cảm giác, hạnh phúc chỉ là hạnh phúc, đau khổ chỉ là
đau khổ. Nó chỉ giản dị là vậy. Tại sao ta phải bám níu vào nó?
Nếu tâm sáng suốt th́ chỉ nghe bấy nhiêu cũng đủ để tách rời thọ
ra khỏi tâm.
Nếu chúng ta
thường xuyên quán chiếu như vậy, tâm sẽ nhẹ nhàng, nhưng đó không
phải là tẩu thoát qua đường lối của vô minh. Tâm buông bỏ, nhưng
nó hiểu biết. Không phải buông bỏ v́ si mê, hay buông bỏ v́ không
muốn sự vật giống như thế đó. Tâm buông bỏ, không bám níu vào thọ
v́ ta hiểu biết đúng theo Chân Lư. Đó là nhận thức Thiên Nhiên,
thấy đúng thực tại ở quanh ḿnh.
Khi hiểu biết được
như vậy ta đă là người thuần thục đối với tâm và đối với thọ. Khi
đă thuần thục làm chủ ḿnh trước những thọ cảm, ta cũng thuần thục
đối với thế gian. Đó là người "Hiểu Biết Thế Gian". Đức Phật là
bậc hiểu biết rơ ràng thế gian và những vấn đề khó khăn ở thế
gian. Ngài hiểu biết rằng những ǵ khuấy động và những ǵ không
khuấy động đều ở ngay tại đây! Thế gian nầy quả thật phức tạp, làm
sao Đức Phật có thể thấu hiểu được? Nơi đây ta phải nhận thức rằng
Giáo Pháp do Đức Phật ban truyền không vượt ra ngoài khả năng của
chúng ta. Trong tất cả mọi oai nghi -- đi, đứng, nằm, ngồi --
chúng ta phải giữ tâm hiện hữu và tự hay biết ḿnh, và khi tọa
thiền cũng vậy, luôn luôn chú niệm và tự hay biết ḿnh.
Ta ngồi thiền để
củng cố trạng thái tâm an lạc và trau giồi tâm lực. Không phải
ngồi đó để làm chuyện ǵ khác. Thiền Minh Sát là tọa thiền và an
trụ tâm trong trạng thái định (samàdhi). Ở vài nơi người ta bảo,
"Bây giờ ta hăy ngồi thiền Định (Samàdhi), rồi sau đó hăy thiền
Tuệ." Không nên phân chia như vậy. Trạng thái vắng lặng là nền
tảng để trí tuệ phát sanh; trí tuệ sẽ được khai triển trên nền
tảng vắng lặng. Nói rằng giờ đây hăy hành thiền Vắng Lặng, sau đó
sẽ hành Minh Sát -- ta không thể làm như vậy! Ta chỉ có thể phân
chia như vậy qua lời nói. Cũng như lưỡi dao, bề mặt ở một bên, bề
trái ở bên kia. Quư vị không thể phân chia. Nếu lấy bề mặt lên th́
cũng lấy lên cả hai bề. Trạng thái vắng lặng làm nền tảng cho trí
tuệ phát sanh cũng cùng thế ấy.
Giới đức là cha và
mẹ của Giáo Pháp. Từ lúc sơ khởi chúng ta phải nghiêm chỉnh tŕ
giới. Giới là an lạc. Tŕ giới có nghĩa là giữ thân và khẩu trong
sạch, không nói và không hành động sai lầm. Không làm ǵ sai quấy
th́ không bị khuấy động, không chao động tâm sẽ được an lạc thanh
b́nh và dễ dàng an trụ. Do đó ta nói rằng Giới, Định, và Tuệ là
Con Đường mà tất cả chư bậc Hiền Thánh đều đă trải qua để thành
tựu Đạo Quả. Tất cả ba pháp là một. Giới là Định, Định là Giới.
Định là Tuệ, Tuệ là Định. Cũng giống như một trái xoài. Khi c̣n là
bông th́ ta gọi là bông xoài. Lúc trở thành trái, ta gọi là trái
xoài, và đến lúc chín th́ ta gọi là trái xoài chin. Tất cả chỉ là
một trái xoài luôn luôn thay đổi trạng thái. Trái xoài già lớn lên
từ xoài non. Xoài non trở thành trái xoài già. Ta có thể gọi bằng
những danh từ khác nhau nhưng tựu trung chỉ là một trái xoài.
Giới, Định, Tuệ cũng liên hệ với nhau cùng một thế áy. Sau cùng
tất cả ba pháp đều nhập chung lại thành Con Đường dẫn đến Giác
Ngộ.
Trái xoài, từ lúc
sơ khởi là bông xoài, chỉ giản dị trưởng thành để trở nên xoài
chín. Bấy nhiêu đă đủ, ta phải thấy như vậy. Dầu ai khác có gọi nó
như thế nào, điều ấy không thành vấn đề. Một khi được sanh ra nó
lớn dần đến già, và rồi đến đâu? Ta phải suy niệm như vậy.
Vài người không
muốn già. Khi thấy tuổi già đến th́ họ buồn phiền, luyến tiếc thời
son trẻ. Những người ấy không nên ăn xoài chín! Tại sao họ muốn
xoài non trở thành chín? Dầu xoài không chín đúng lúc họ cũng giú
ép, có phải vậy không? Nhưng khi chính ta trở thành già, ta lại
tiếc. Vài người than khóc, sợ già, hay sợ chết. Nếu như vậy th́ họ
chớ nên ăn xoài chín mà chỉ ăn bông xoài! Nếu thấy được như vậy ắt
ta có thể trông thấy Giáo Pháp. Mọi việc đều sáng tỏ, chúng ta an
lạc. Hăy quyết tâm thực hành như vậy.
Hôm nay có Ông Cố
Vấn Trưởng cùng nhiều quan khách đến nghe Pháp. Quư vị hăy nhận
lănh những ǵ Sư giảng để về nhà suy gẫm. Nếu có điều sai lầm xin
quư vị thông cảm cho Sư. Tuy nhiên có hiểu được là đúng hay sai
cũng tùy theo pháp hành và quan kiến của quư vị. Bất cứ ǵ là sai,
hăy vứt bỏ. Điều nào đúng, hăy giữ lấy để xử dụng. Nhưng trong
thực tế, chúng ta thực hành để buông bỏ cả hai, đúng và sai. Điều
đúng, hăy vứt bỏ; điều sai, vứt bỏ. Thông thường, nếu là đúng th́
ta bám níu vào tánh cách đúng của nó, c̣n sai th́ ta giữ lại cái
sai, rồi sau đó tranh luận, bàn thảo v.v... Nhưng Giáo Pháp là nơi
chốn mà không có ǵ -- không có ǵ cả!
Chú thích:
[1] Lời người
dịch: Nhằm giúp quư vị chưa quen thuộc với các từ ngữ trong
pháp môn hành thiền dễ dàng lănh hội thời Pháp của Ngài Thiền Sư,
chúng tôi xin bổ túc thêm phần chú giải dưới đây, dựa theo Vi Diệu
Pháp. Năm chi thiền, tức năm yếu tố của thiền: Tầm, Sát, Phỉ, Lạc,
Trụ, nằm trong tâm Định (samàdhi), bao gồm cái được gọi là Sơ
"Thiền" (Jhàna). Trong tầng Nhị Thiền hai chi đầu (Tầm, Sát) được
loại. Đến Tam Thiền, ba chi đầu (Tầm, Sát, Phỉ) đều được loại. Và
cuối cùng đến Tứ Thiền, chí đến chi thiền thứ tư (Phỉ), cũng được
loại và chi thiền Xả (Upekkhà) được thay vào.
Vitakka - Tầm, là
chi thiền đưa các tâm sở đồng phát sanh hướng về đối tượng của
tâm. Vicàra, Sát hay Tứ, là quan sát, hay ḍ xét. Nơi đây Sát là
liên tục đặt tâm trên đối tượng. Vitakka hướng tâm về đối tượng và
Vicàra, Sát, đặt tâm lên đối tượng. Vitakka, Tầm, giống như con
ong bay hướng về hoa. Vicàra, Sát, như ong bay quanh quẩn trên
hoa.
Ṕti - Phỉ, là
thỏa thích. Nhưng Ṕti, Phỉ, không phải là một loại thọ (vedanà)
như Lạc (Sukha). Một cách chính xác, Phỉ là tâm sở đến trước, và
trong khi xuất hiện, báo hiệu rằng sắp có thọ Lạc phát sanh. Có
năm loại Phỉ là: 1) Thỏa thích làm rùng ḿnh, rởn óc hay nổi da
gà, 2) Thỏa thích thoáng qua mau lẹ như trời chớp, 3) Thỏa thích
tràn ngập như sóng biển trườn lên băi, 4) Thỏa thích thanh thoát,
đem lại cho hành giả cảm giác nhẹ nhàng như bông g̣n, lững lờ bay
theo chiều gió, và 5) Thỏa thích thấm nhuần toàn thể châu thân như
bong bóng được thổi phồng, hay trận lụt tràn lan làm ngập cả ao
vũng.
Sukha - Lạc, là
thọ lạc, an vui hạnh phúc. Ṕti, Phỉ, làm cho hành giả phấn khởi
vui thích trong đề mục, c̣n Sukha, Lạc, th́ giúp hành giả thỏa
thích hưởng thọ đề mục. Khách lữ hành mệt mỏi đi trong sa mạc thấy
xa xa có cụm cây và ao nước th́ lấy làm thỏa thích. Vui mừng trước
khi thật sự hưởng thọ là Ṕti. Khi đến tận ao nước, trạng thái
thỏa thích tắm rửa và uống nước là Sukha.
Upekkhà - Xả, là
một h́nh thức vi tế của tâm b́nh thản, quân b́nh. Tâm sở nầy cũng
đă tiềm ẩn trong các tầng Sơ thiền, Nhị Thiền và Tam Thiền, nhưng
đến Tứ Thiền th́ nổi bật lên và trở thành vi tế đến mức cao độ.
[2] Điều nầy có
nghĩa là luôn luôn, bất cứ lúc nào, trong mọi sinh hoạt.
[3] Đây là trạng
thái "hổ thẹn" căn cứ trên sự hiểu biết nhân và quả, không phải là
cảm giác tội lỗi.
[4] Lời của
dịch giả: Bát Chánh Đạo mà nơi đây Ngài Achahn phân làm Giới,
Định, và Tuệ, là con đường có tám chi. Giống như một sợi dây thừng
có tám tao nhợ hợp lại. Người leo dây mỗi lần tay chỉ nắm vào một
số, hai, ba, hoặc bốn tao nhợ cùng một lúc. Đến khi bỏ tay khác
lên, th́ nắm một số tao nhợ khác chớ không phải nắm một lúc tất cả
tám tao nhợ. Cùng thế ấy, vị hành giả mà c̣n đang thời kỳ tu luyện
chỉ hành một số chi cùng một lúc. Nhưng đến khi đạt đến mức độ mà
Ngài mô tả trên th́ hành giả dần dần hành cùng lúc một số chi
nhiều hơn, và cuối cùng khi thành đạt Thánh Đạo và Thánh Quả th́
tám chi cùng hợp chung lại thành một, và hành giả hành luôn cả tám
chi cùng một lúc.
[5] "Sinh hoạt bên
ngoài" ở đây là những cảm giác mà ta cảm nhận từ lục trần (sắc,
thinh, hương, vị, xúc, pháp) xuyên qua lục căn (nhăn, nhĩ, tỷ,
thiệt, thân, ư) -- đối chiều với "sinh hoạt bên trong" là các tầng
Thiền jhàna, nơi đây tâm "không đi ra ngoài" theo các cảm xúc.
[6] Lời người
dịch: Danh từ sankhàra, pháp hữu vi, là những ǵ được
sanh ra do điều kiện và tồn tại do điều kiện. Phải có ǵ trước đó
tạo duyên mới hiện hữu, rồi có ǵ tạo duyên mới tồn tại. Khi hết
nhân duyên th́ hoại diệt. Trong thực tế, tất cả mọi sự vật trên
thế gian, dầu tinh thần hay vật chất, đều là pháp hữu vi -- cũng
được gọi là các vật được cấu tạo, hay pháp tùy thế..
[7] Danh từ "Ô
Nhiễm" ở đây được phiên dịch từ Phạn ngữ kilesa, là những
thói hư tật xấu phát sanh từ Vô Minh, hay những bợn nhơ tinh thần
luôn luôn ngủ ngầm bên trong tất cả những chúng sanh trong tam
giới.
-ooOoo-
[02]
Khai thông pháp
nhăn
... Đức Phật
thành tựu sự giác ngộ của Ngài trong thế gian. Nếu không quán
chiếu thế gian, nếu không trông thấy thế gian, ắt Ngài không thể
vượt khỏi lên trên thế gian. Sự giác ngộ của Đức Phật chỉ giản
dị là giác ngộ chính thế gian nầy. Thế gian vẫn c̣n đó: lợi lộc
và lổ lă, tán dương và khiển trách, danh thơm và tiếng xấu, hạnh
phúc và đau khổ, tất cả đều vẫn c̣n đó. Nếu không có những hiện
tượng ấy ắt không có ǵ để giác ngộ ...
Vài người trong
chúng ta mới bắt đầu hành thiền. Có người đă hành được một hoặc
hai năm, nhưng chưa thông hiểu ǵ. Chúng ta không nắm vững và
không tin chắc nơi pháp hành. Khi chưa tin chắc ắt không thấy rằng
tất cả mọi sự vật quanh ta chỉ thuần túy là Giáo Pháp và do vậy,
chúng ta quay trở về những lời dạy của quư Thầy (Ajahn). Nhưng
trong thực tế, khi chúng ta thấu hiểu cái tâm của chính ḿnh, khi
đủ chánh niệm (sati) để nh́n sâu vào tâm, ắt trí tuệ phát sanh.
Giờ phút nào và nơi chốn nào cũng trở thành cơ hội tốt đẹp để
chúng ta lắng nghe Giáo Pháp.
Chúng ta có thể
học Giáo Pháp trong thiên nhiên, trong cây cối chẳng hạn. Cội cây
được sanh ra do nguyên nhân, rồi trưởng thành theo ḍng trôi chảy
của thiên nhiên. Ngay tại đây, cội cây đang thuyết giảng Giáo Pháp
cho chúng ta. Nhưng chúng ta không lănh hội lời giảng. Rồi theo
thời gian cây trưởng thành, lớn lên và lớn lên đến lúc nở mộng,
trổ hoa, sanh trái. Tất cả những ǵ ta trông thấy chỉ là sự phát
hiện của hoa và quả. Chúng ta không thể đem nó vào bên trong ḿnh
để quán chiếu. Do đó chúng ta không hiểu biết rằng cội cây đang
dạy ta bài học về Giáo Pháp. Trái trổ sanh, và ta chỉ hái ăn mà
không quán xét và t́m hiểu: ngọt, chua, hay mặn là bản chất tự
nhiên của trái. Và đó là Giáo Pháp, là bài giảng của trái. Tiếp
tục lớn thêm, lá trở nên già, úa vàng, khô héo, chết, và rơi rụng.
Tất cả những ǵ ta thấy chỉ là những chiếc lá vàng khô rơi rụng
đầy sân. Chúng ta đạp đi trên lá, và chúng ta quét sạch. Chỉ thế
thôi. Chúng ta không khảo sát tận tường và như vậy, không lănh hội
được bài học mà thiên nhiên đang thuyết giảng. Về sau, lá non nở
mầm, mọc lên, và ta chỉ thấy bấy nhiêu, không có ǵ hơn nữa. Đó
không phải là chân lư được thấu hiểu bằng cách suy gẫm.
Nếu có thể đem tất
cả những dữ kiện ấy vào bên trong và quán chiếu, ta sẽ nhận thấy
rằng sự sanh của cội cây và sự sanh của chúng ta không có ǵ khác
biệt. Cơ thể nầy của chúng ta được sanh ra và tồn tại tùy thuộc
nơi những điều kiện như những nguyên tố đất, nước, lửa, gió. Kế đó
nhờ chất dinh dưỡng trong vật thực, nó trưởng thành, và ngày càng
lớn lên. Mỗi phần trong cơ thể đều biến đổi và trôi chảy thích ứng
với bản chất thiên nhiên của nó. Không có ǵ khác với cội cây,
tóc, móng, răng, da v.v... tất cả đều biến đổi. Nếu chúng ta thông
hiểu sự vật trong thiên nhiên ta sẽ tự hiểu biết chính ḿnh.
Con người được
sanh ra rồi cuối cùng, chết. Chết rồi sanh trở lại. Móng, răng,
da, cũng vậy, luôn luôn hoại diệt và mọc lên trở lại. Nếu thấu
hiểu pháp hành, chúng ta cũng có thể nhận thức rằng cây cối không
có ǵ khác chúng ta. Nếu lănh hội được giáo huấn của chư vị thiền
sư, chúng ta sẽ nhận thức rằng cảnh vật bên ngoài và bên trong
chúng ta cũng tương tợ nhau. Những sự vật hữu giác hữu tri và vô
tri vô giác không có ǵ khác nhau. Nó cũng giống như nhau. Và nếu
thấu đạt được tánh cách giống nhau ấy, khi thấy bản chất thiên
nhiên của một cội cây chẳng hạn, chúng ta sẽ hiểu nó không có ǵ
khác biệt với ngũ uẩn của chính ta -- sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Hiểu biết như vậy tức hiểu biết Giáo Pháp. Hiểu biết Giáo Pháp,
chúng ta cũng hiểu biết ngũ uẩn luôn luôn di động và không ngừng
biến chuyển như thế nào.
Như vậy, bất luận
đi, đứng, nằm, ngồi, chúng ta phải giác tỉnh chú niệm, theo dơi
canh chừng tâm ḿnh. Nh́n thấy cảnh vật bên ngoài cũng như thấy sự
vật bên trong. Thấy bên trong th́ cũng giống như thấy bên ngoài.
Nếu lănh hội đầy đủ điều nầy ắt chúng ta có thể nghe lời dạy của
Đức Phật. Nếu thấu hiểu như vậy ta có thể nói rằng Phật tánh hay
bản chất Phật, "Người hiểu biết", đă vững vàng an trụ trong tâm
ḿnh. "Người hiểu biết" ấy hiểu biết bên ngoài và hiểu biết bên
trong. "Người hiểu biết" ấy thấu triệt tất cả sự vật nào phát
sanh. Thấu hiểu như vậy, khi ngồi dưới gốc cây ta nghe lời dạy của
Đức Phật. Đi, đứng, nằm, ngồi ta nghe Đức Phật giảng dạy. Thấy,
nghe, hửi, nếm, sờ đụng và suy tư, ta nghe Đức Phật ban huấn từ.
Đức Phật chính là "Người hiểu biết" ấy, bên trong cái tâm nầy!
Người ấy hiểu biết Giáo Pháp, quán chiếu Giáo Pháp. Không phải Đức
Phật mà xưa kia đă thị hiện trên thế gian nay đến giảng cho chúng
ta, nhưng bản chất Phật, hay Phật tánh, "Người hiểu biết" phát
sanh. Tâm trở thành sáng tỏ.
Nếu chúng ta tôn
trí vững chắc Đức Phật bên trong tâm ḿnh ắt ta thấy tất cả mọi sự
vật, quán chiếu tất cả, và nhận thức rằng tất cả đều không có ǵ
khác biệt với chúng ta. Chúng ta thấy rằng loài thú, cây cối, núi
non, và các loại dây leo đều giống như ta. Chúng ta thấy người
nghèo, người giàu -- không có ǵ khác ta. Người da đen, người da
trắng -- không khác! Tất cả đều có những đặc tánh như nhau. Người
mà thấy được như vậy th́ bất cứ ở đâu cũng cảm nghe thoải mái, hài
ḷng. Người ấy lúc nào cũng lắng tai nghe lời dạy của Đức Phật.
C̣n nếu không hiểu được như vậy th́ dầu có trải qua suốt cuộc đời
của ḿnh để nghe các bài giảng của chư Tăng, người ấy vẫn không
thể lănh hội ư nghĩa của lời giảng.
Đức Phật dạy rằng chứng ngộ Giáo Pháp chỉ là
hiểu biết Thiên Nhiên, hiểu biết thực tại ở quanh ta, hiểu biết
bản chất của Thiên Nhiên [8] ở ngay tại đây! Nếu không hiểu biết
cái Thiên Nhiên ấy ta sẽ gặp thất vọng và vui mừng, ta sẽ lạc lối
trong những cảm xúc buồn vui, làm phát sanh sầu muộn và hối tiếc.
Lạc lối trong những đối tượng của tâm (pháp), tức lạc lối trong
Thiên Nhiên. Khi đă lạc lối trong Thiên Nhiên ta sẽ không hiểu
biết Giáo Pháp. Đấng Giác Ngộ chỉ giản dị vạch cho ta thấy Thiên
Nhiên ấy.
Tất cả mọi sự vật,
khi đă phát sanh ắt biến chuyển và hoại diệt. Những vật mà chúng
ta nhồi nắn như chén dĩa, tô, tộ v.v... tất cả đều cùng một đặc
tánh. Do nguyên nhân nào đó, như ư muốn thúc đẩy con người sáng
tác, một cái chén được nhồi nắn thành h́nh, rồi ta xử dụng cái
chén, chén trở nên xưa cũ, bể, và ta không c̣n thấy nó nữa. Cây
cối, núi non và các loại dây leo cũng cùng một thế ấy, chí đến thú
vật và người ta cũng vậy.
Khi Ngài Anna
Kondanna (A Nhă Kiều Trần Như), nghe Đức Phật thuyết giảng lần đầu
tiên liền chứng ngộ. Sự chứng ngộ ấy không có ǵ là phức tạp lắm.
Ngài chỉ giản dị nhận thức rằng bất luận ǵ được sanh ra đều phải
biến đổi, tự nhiên trưởng thành và đến thời kỳ, phải hoại diệt.
Trước kia Ngài Anna Kondanna không bao giờ nghĩ đến điều ấy, hoặc
có nghĩ chăng nữa, cũng mù mờ, không tận tường, không sáng tỏ, nên
Ngài c̣n chấp vào ngũ uẩn mà không buông bỏ. Đến khi ngồi lại giữ
chánh niệm, lắng nghe Đức Phật giảng th́ Phật tánh phát sanh đến
Ngài. Ngài liền thọ nhận một loại "truyền thống" Giáo Pháp, vốn là
sự hiểu biết rằng tất cả các pháp hữu vi đều vô thường. Bất luận
ǵ được sanh ra tự nhiên trưởng thành và hoại diệt.
Sự chứng nghiệm ấy
quả thật khác biệt với bất luận ǵ Ngài được biết từ bao giờ. Ngài
thật sự ư thức rơ ràng tâm ḿnh là như vậy, Đức Phật thị hiện bên
trong Ngài. Vào lúc bấy giờ Đức Phật tuyên bố rằng Anna Kondanna
đă thọ nhận Pháp Nhăn (nhăn quan của Giáo Pháp).
Pháp nhăn ấy trông
thấy ǵ? Mắt ấy thấy rằng hậu quả dĩ nhiên của bất luận ǵ được
sanh ra là trưởng thành và hoại diệt. "Bất luận ǵ được sanh ra"
có nghĩa là tất cả mọi sự vật! Dầu vật chất hay tinh thần, tất cả
đều nằm trong phạm vi của "bất luận ǵ được sanh ra". Đoạn nầy hàm
xúc tất cả Thiên Nhiên. Như thân nầy chẳng hạn -- nó được sanh ra
và tiến dần đến hoại diệt. Khi c̣n thơ ấu, nó "diệt" từ trong
trạng thái thơ ấu ấy để trở nên "thiếu nhi". Một thời gian sau nó
"diệt" từ trạng thái thiếu nhi để trở nên thanh niên, và nó tiếp
tục "diệt" từ thanh niên để bước vào trung niên, rồi "diệt" từ
trung niên để đến lăo niên và cuối cùng, chấm dứt kiếp sống. Cây
cối, núi non, và các loài dây leo đều mang cùng một đặc tánh,
giống như nhau.
Như vậy, tri kiến
hay tuệ giác của "Người hiểu biết" rơ ràng phát hiện vào tâm của
Ngài Kondanna ngay lúc Ngài ngồi đó. Sự hiểu biết tận tường về
"bất luận ǵ được sanh ra" đă được vững chắc tôn trí một cách thâm
sâu vào tâm năo làm cho Ngài có đủ khả năng nhổ tận gốc rễ mọi
luyến ái bám níu vào cơ thể ḿnh. Luyến ái ấy là thân kiến
"sakkàya ditthi". Điều nầy có nghĩa là Ngài không xem thân nầy là
một tự ngă, một chúng sanh. Ngài không nh́n nó trong ư nghĩa "tôi"
hay "nó" và không bám níu vào nó. Ngài ư thức rơ ràng và do đó,
tận diệt thân kiến, sakkàya ditthi.
Rồi hoài nghi
(vicikicchà) cũng tận diệt. Khi đă nhổ tận gốc rễ mọi luyến ái bàm
níu vào thân (thân kiến) Ngài không c̣n chút ǵ hoài nghi về sự
chứng ngộ của ḿnh. Rồi giới cấm thủ (ślabbata paràmàsa) cũng tận
diệt. [9] Lúc bấy giờ pháp hành của Ngài Kondanna trở nên vững
vàng và trực tiến. Cho dù thân có đau đớn hay sốt nóng Ngài cũng
không bám vào đó, không hoài nghi. Ngài không hoài nghi v́ đă tận
diệt luyến ái. Khi ta nhổ tận gốc rễ quan kiến chấp rằng thân nầy
là tự ngă th́ sự luyến ái dính mắc vào thân và hoài nghi cũng chấm
dứt cùng với nó. Nếu có ư niệm chấp rằng thân nầy là tự ngă phát
sanh trong tâm th́ hoài nghi và giới cấm thủ cũng bắt đầu ngay tại
đó.
Như vậy, ngay vào
lúc Đức Phật thuyết giảng xong Giáo Pháp th́ Ngài Anna Kondanna
khai thông Pháp Nhăn. "Mắt của Giáo Pháp" ấy chỉ là "Người hiểu
biết rơ ràng". Lối nh́n mới mẻ. Nó thấy chính cái Thiên Nhiên nầy.
Nhận thấy Thiên Nhiên một cách rơ ràng, tường tận, nhổ tận gốc rễ
mọi bám níu (thủ), và "Người hiểu biết" được sanh ra đời. Trước đó
Ngài hiểu biết, nhưng vẫn c̣n "thủ". Quư vị có thể nói rằng trước
kia Ngài hiểu biết Giáo Pháp nhưng vẫn c̣n chưa thấy Giáo Pháp,
hoặc nữa, quư vị có thể nói là Ngài đă thấy Giáo Pháp nhưng chưa
tự ḿnh đồng hóa, đồng nhất thể, chưa là một với Giáo Pháp.
Vào lúc ấy Đức
Phật tuyên bố, "Kondanna đă hiểu biết". Hiểu biết ǵ? Ngài chỉ
hiểu biết Thiên Nhiên! Thông thường chúng ta lạc lối trong Thiên
Nhiên, cũng như ta lạc lối trong thân nầy. Đất, nước, lửa và gió
hợp lại cấu thành cơ thể nầy của chúng ta. Đó là một sắc thái của
Thiên Nhiên, một h́nh thể vật chất mà mắt ta có thể thấy. Nó tồn
tại nhờ vật thực, rồi trưởng thành và biến đổi đến sau cùng, hoại
diệt.
Bây giờ đi trở vào
bên trong, cái mà theo dơi trông chừng thân là thức -- chỉ là
"người hiểu biết", chỉ giản dị là sự hay biết. Nếu sự hay biết ấy
được thâu nhận xuyên qua mắt th́ được gọi là nhăn thức, xuyên qua
tai th́ được gọi là nhĩ thức, qua mũi là tỷ thức, qua lưỡi là
thiệt thức, qua thân là thân thức và qua ư là ư thức. Thức th́ chỉ
có một, nhưng nó tác động ở nhiều nơi khác nhau nên ta gọi bằng
nhiều danh từ khác nhau. Xuyên qua mắt th́ được gọi bằng tên nầy,
qua tai ta lại gọi bằng một tên khác. Tuy nhiên, dầu tác động
xuyên qua mắt tai, mũi, lưỡi, thân hay ư, chỉ có một sự hay biết.
Theo ngôn ngữ của kinh điển ta gọi là lục thức, nhưng trong thực
tế chỉ có cái thức duy nhất phát sanh ở sáu căn khác nhau. Có sáu
cửa vào, "lục nhập", nhưng chỉ có một sự hay biết duy nhất, vốn là
cái tâm nầy.
Tâm nầy có khả
năng hiểu biết chân lư của Thiên Nhiên. Nếu tâm vẫn c̣n bị che
lấp, ta nói rằng nó hiểu biết xuyên qua Vô Minh. Nó hiểu sai lầm
và nó thấy sai lầm. Hiểu sai lầm, thấy sai lầm hoặc hiểu và thấy
sai lầm hoặc hiểu và thấy đúng chỉ là sự hay biết duy nhất. Chúng
ta nói Tà Kiến và Chánh Kiến nhưng kỳ thật chỉ là một. Cả hai, tà
và chánh, đều phát sanh từ một nơi. Khi là một kiến thức sai lầm,
ta nói Vô Minh che lấp chân lư. Khi mà kiến thức sai lầm, nó kéo
theo cả dây: Tà Kiến, Tà Tư Duy, Tà Ngữ, Tà Nghiệp, Tà Mạng ...
tất cả đều tà! Đàng khác, con đường của pháp hành chân chánh cũng
phát xuất từ một nơi đó. Khi có Chánh th́ Tà biến dạng.
Đức Phật thực hành khổ hạnh, chịu đựng nhiều
gian truân khổ nhọc, đau đớn và tự ép xác khổ hạnh, nhịn ăn v.v...
nhưng Ngài quán chiếu thâm sâu vào bên trong tâm cho đến khi cuối
cùng nhổ tận gốc rễ mầm mống Vô Minh. Tất cả chư Phật đều giác ngộ
từ trong tâm, bởi v́ thân nào có biết ǵ. Quư vị có thể cho nó ăn
hoặc bắt nó nhịn đói cũng không sao. Nó có thể chết bất cứ lúc
nào. Tất cả chư Phật đều thực hành với tâm. Các Ngài giác ngộ
trong tâm.
Đức Phật quán chiếu tự tại và từ bỏ hai pháp
hành cực đoan -- Lợi dưỡng, buông lung ch́m đắm trong Dục Lạc, và
Lợi Dưỡng trong Đau khổ -- và trong Bài Pháp Đầu Tiên (Kinh Chuyển
Pháp Luân) Ngài thuyết giảng Trung Đạo, Con Đường khoảng giữa hai
cực đoan ấy. Nhưng khi nghe những lời dạy ấy th́ nó chạm ḷng ham
muốn của ta. Ta đắm ch́m trong dục lạc và tiện nghi, ta mê say
trong hạnh phúc, nghĩ rằng những điều ấy là tốt đẹp -- đó là Lợi
Dưỡng, buông lung trong Dục Lạc. Đó không phải là con đường chân
chánh. Bất măn, không vui, không thích, và sân hận -- đó là Lợi
Dưỡng, buông lung trong Đau Khổ. Trên đây là hai cực đoan mà người
đi trên con đường thực hành nên tránh.
Những "con đường"
cực đoan ấy chỉ giản dị là hạnh phúc và đau khổ phát sanh đến ta.
"Người đi trên Con Đường" chính là cái tâm nầy, chính là "người
hiểu biết". Nếu một cảm xúc dễ chịu đến, chúng ta bám níu vào điều
tốt đẹp ấy, đó là Lợi Dưỡng trong Dục Lạc. Khi một xúc cảm khó
chịu phát sanh, chúng ta bám vào đó bằng cách không ưa thích, đó
là Lợi Dưỡng trong Đau Khổ. Cả hai đều là con đường lầm lạc, không
phải là con đường của người hành thiền. Đó là con đường của người
thế gian, những người đi t́m vui sướng và hạnh phúc, cố tránh sầu
muộn và đau khổ.
Người có trí tuệ
biết những con đường lầm lạc nhưng không tự buông trôi đắm ch́m
trong đó mà dứt bỏ, tách ĺa ra khỏi nó. Người ấy không để bị dục
lạc và bất toại nguyện, hạnh phúc và đau khổ, gây xúc động. Nó
phát sanh đến, nhưng người sáng suốt hiểu biết không bám vào mà
buông bỏ, để nó đi theo bản chất thiên nhiên của nó. Đó là Chánh
Kiến. Khi đă thấu triệt tận tường như thế ắt có giải thoát. Hạnh
phúc và đau khổ không có nghĩa lư ǵ đối với người đă giác ngộ.
Đức Phật dạy rằng bậc Giác Ngộ xa ĺa ô nhiễm. Điều nầy không có
nghĩa là các Ngài bỏ chạy, tránh xa ô nhiễm. Các Ngài không chạy
đi đâu cả. Ô nhiễm vẫn ở đó. Ngài lấy thí dụ lá sen trong đầm. Lá
sen trầm ḿnh trong nước, nhưng nước không thấm vào. Nước như ô
nhiễm và lá sen như tâm của bậc Giác Ngộ.
Tâm của người hành
thiền cũng như thế ấy, không bỏ chạy đi đâu, mà vẫn ở ngay tại đó.
Thiện và ác, hạnh phúc và đau khổ, chánh và tà, phát sanh -- hành
giả hiểu biết tất cả. Chỉ giản dị hiểu biết mà không để cho nó xâm
nhập vào tâm ḿnh. Hành giả chỉ là người chứng nghiệm mà không bám
níu. Nói rằng hành giả chỉ là người chứng nghiệm suông là nói theo
ngôn ngữ thông thường của người đời. Trong ngôn ngữ của Giáo Pháp
chúng ta nói rằng người hành thiền để cho tâm ḿnh đi theo Trung
Đạo.
Những sinh hoạt
của hạnh phúc và đau khổ v.v... luôn luôn phát sanh, bởi v́ nó là
đặc tánh của thế gian. Đức Phật thành đạt sự giác ngộ của Ngài
trong thế gian, Ngài quán chiếu thế gian. Nếu không quán chiếu thế
gian ắt Ngài không trông thấy thế gian và như vậy, không thể vượt
lên trên, khỏi thế gian. Sự giác ngộ của Đức Phật chỉ giản dị là
giác ngộ chính thế gian nầy. Thế gian vẫn c̣n đó: lợi lộc và lỗ
lă, tán dương và khiển trách, danh thơm và tiếng xấu, hạnh phúc và
đau khổ, tất cả đều vẫn c̣n đó. Nếu không có những hiện tượng ấy
ắt không có ǵ để giác ngộ. Điều mà Ngài hiểu biết chỉ là thế
gian, những ǵ bao quanh tâm năo của con người. Nếu con người chạy
theo những cái ấy, mong t́m được tán dương, danh vọng, lợi lộc, và
hạnh phúc, và cố gắng tránh những t́nh trạng đối nghịch, con người
sẽ bị ch́m sâu dưới trọng lượng của thế gian.
Lợi lộc và lỗ lă,
tán dương và khiển trách, danh thơm và tiếng xấu, hạnh phúc và đau
khổ -- đó là thế gian. Người lạc lối trong thế gian không có đường
để lẩn thoát. Người ấy đă bị thế gian tràn ngập. Thế gian theo
Định Luật của Giáo Pháp, v́ lẽ ấy chúng ta gọi là Thế Gian Pháp,
Giáo Pháp của Thế Gian. Người sống trong Thế Gian Pháp được gọi là
chúng sanh trong thế gian. Người ấy sống trong t́nh trạng rối
loạn.
V́ lẽ ấy Đức Phật
dạy chúng ta phát triển Con Đường. Chúng ta có thể phân chia Con
Đường ấy thành Giới, Định, Tuệ -- và trau giồi, phát triển trọn
vẹn, đầy đủ, đến tận cùng. Đây là Con Đường thực hành nhằm tiêu
diệt thế gian. Thế gian ở đâu? Nó ở ngay trong tâm, và chúng sanh
say đắm trong ấy! Hành động nào bám níu vào lời khen tặng, lợi
lộc, danh vọng và hạnh phúc được gọi là "thế gian". Khi nó ở tại
đó, trong tâm, th́ thế gian được sanh ra. Thế gian được sanh ra
chỉ v́ tại ham muốn. Ḷng ham muốn là nơi chôn nhau cắt rún của
tất cả thế gian. Chấm dứt ham muốn tức chấm dứt thế gian.
Pháp hành Giới,
Định, Tuệ của chúng ta cũng được gọi là Bát Chánh Đạo. Bát Chánh
Đạo cùng với Tám Thế Gian Pháp là một cặp. Thế nào Bát Chánh Đạo
và Tám Thế Gian Pháp là một cặp? Nếu nói theo kinh điển th́ lợi
lộc và lỗ lă, tán dương và khiển trách, danh thơm và tiếng xấu,
hạnh phúc và đau khổ là Tám Thế Gian Pháp. Chánh Kiến, Chánh Tư
Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh
Niệm và Chánh Định là Bát Chánh Đạo. Hai con đường bao gồm tám chi
nầy -- Tám Thế Gian Pháp và Bát Chánh Đạo -- cùng tồn tại chung
một nơi. Tám Thế Gian Pháp ở ngay tại đây, trong chính cái tâm
nầy, cùng với "người hiểu biết". Nhưng v́ "người hiểu biết" nầy bị
che lấp nên hiểu biết sai lầm và do đó trở thành thế gian. Chỉ có
một người ấy, "người hiểu biết", không ai khác! Bản chất Phật, hay
Phật tánh chưa phát sanh trong tâm nầy, nó chưa tự rút được ra
khỏi thế gian. Một cái tâm như thế ấy là thế gian.
Khi chúng ta thực
hành trên Con Đường, khi chúng ta rèn luyện thân và khẩu, tất cả
đều xảy diễn trong chính cái tâm nầy. V́ cùng ở chung một nơi nên
Con Đường và thế gian trông thấy nhau. Con Đường trông thấy thế
gian. Nếu thực hành với cái tâm ấy chúng ta sẽ gặp sự bám níu vào
những lời khen tặng, danh vọng, dục lạc và hạnh phúc. Chúng ta
thấy luyến ái thế gian.
Đức Phật dạy, "Hăy hiểu biết thế gian. Nó rực
rỡ sáng ngời như chiếc long xa của nhà vua. Kẻ cuồng si say mê,
nhưng người trí th́ không bị phỉnh gạt". Không phải Ngài muốn cho
chúng ta đi cùng khắp thế gian để nh́n xem, khảo sát và học hỏi
mọi sự vật trong thế gian. Ngài chỉ muốn chúng ta theo dơi và quan
sát cái tâm nầy, vốn tùy thuộc nơi thế gian. Khi Đức Phật dạy ta
hăy nh́n xem thế gian, không phải Ngài muốn chúng ta bị dính kẹt
trong đó. Ngài muốn chúng ta khảo sát, bởi v́ thế gian được sanh
ra trong chính cái tâm nầy. Ngồi dưới bóng mát của một cội cây,
quư vị cũng có thể nh́n thế gian. Khi có ḷng ham muốn, thế gian
phát hiện ngay tại đó. Khát vọng là sinh quán của thế gian. Dập
tắt khát vọng tức dập tắt thế gian.
Khi ngồi thiền
chúng ta muốn tâm an lạc, nhưng nó không an lạc. Tại sao? Chúng ta
không muốn suy tư, nhưng chúng ta suy tư. Chao ôi! Cũng giống như
người kia ngồi nhằm trên ổ kiến. Kiến bu lại, cắn tứ tung. Khi tâm
là thế gian th́ dầu có ngồi nhắm hai mắt lại, ta chỉ thấy thế
gian, lạc thú, ưu phiền, lo âu, rối trí -- tất cả đều khởi dậy.
Tại sao? Là bởi v́ chúng ta chưa chứng ngộ Giáo Pháp. Nếu tâm mà
như thế ấy hành giả không quán chiếu. Cũng chỉ giống như ngồi trên
ổ kiến. Kiến bu lại cắn bởi v́ ta ngồi ngay trên nhà của nó. Như
vậy th́ phải làm sao? Phải t́m một chất độc, hoặc dùng lửa để đuổi
kiến đi.
Tuy nhiên, phần
lớn những người thực hành Giáo Pháp không thấy như vậy. Nếu cảm
nghe vừa ḷng, họ chỉ đeo dính theo trạng thái vừa ḷng ấy, cảm
nghe phật ư, họ chỉ dính kẹt trong t́nh trạng phật ư. Đeo níu, bám
chặt (thủ) thế gian pháp, tâm họ trở thành thế gian. Đôi khi chúng
ta nghĩ, "ồ, ta không thể làm được điều ấy, điều ấy vượt khỏi phạm
vi khả năng của ta ..." và rồi ta không cố gắng. Đó là bởi v́ tâm
đầy ô nhiễm. Các thế gian pháp không để cho Con Đường phát sanh.
Chúng ta không thể nhẫn nại chịu đựng công tŕnh phát triển Giới,
Định, và Tuệ Minh Sát. Cũng chỉ giống như người ngồi trên ổ kiến!
Người ấy không thể làm ǵ. Kiến bu ráp lại cắn và ḅ khắp châu
thân. Người ấy bị ch́m đắm trong t́nh trạng rối loạn và khuấy
động. Anh ta không thể rời bỏ được chỗ ngồi nguy hiểm, và do đó cứ
ngồi lỳ chịu đau khổ.
Với pháp hành của
chúng ta cũng vậy. Thế gian pháp đă tồn tại, nằm sẵn trong tâm
chúng sanh. Khi các chúng sanh ấy muốn t́m an lạc, thế gian liền
phát sanh ngay tại đó. Tâm c̣n vô minh th́ chỉ có đêm tối. Khi tuệ
giác phát sanh, tâm trở nên sáng tỏ, bởi v́ vô minh và tuệ giác
đều sanh ra cùng trong một chỗ. Khi vô minh phát sanh, tuệ giác
không thể vào, bởi v́ tâm đă chấp nhận vô minh. Khi tuệ giác phát
sanh, vô minh không thể hiện hữu tại đó.
V́ lẽ ấy Đức Phật
kêu gọi các đệ tử nên thực hành với tâm (tức hành thiền), bởi v́
thế gian được sanh ra từ trong tâm. Tám thế gian pháp nằm ngay tại
đó. Bát Chánh Đạo, tức sự quán chiếu bằng thiền Vắng Lặng và thiền
Minh Sát, đức hạnh tinh tấn chuyên cần của chúng ta và trí tuệ mà
chúng ta khai triển, tất cả những công tŕnh ấy tháo gỡ nanh vuốt
của thế gian. Tham ái, bám níu, sân hận, và si mê dần dần suy
giảm, và chúng sanh nhẹ nhàng hơn, chúng ta hiểu biết đúng như
vậy. Nếu có danh vọng, lợi lộc, hoặc có lời tán dương, có hạnh
phúc hay đau khổ, chúng ta hay biết điều ấy. Chúng ta cần phải
hiểu biết những điều ấy trước khi có thể vượt lên, thoát ra khỏi
thế gian, bởi v́ thế gian ở bên trong chúng ta.
Ta thoát ra khỏi
các thế gian pháp cũng giống như khi ta rời khỏi một ngôi nhà. Khi
vào nhà ta có cảm giác như thế nào? Chúng ta cảm giác là ḿnh đi
ngang qua cửa và bước vào nhà. Khi ĺa nhà ta cảm giác là đă ĺa
khỏi ngôi nhà và bước vào ánh sáng mặt trời, không c̣n tối tăm như
lúc c̣n ở bên trong. Khi tâm vào thế gian pháp cũng giống như ta
vào nhà. Khi tâm đă diệt trừ các thế gian pháp cũng giống như ta
rời khỏi nhà.
Như vậy hành giả
phải tự ḿnh chứng nghiệm Giáo Pháp. Tự ḿnh, hành giả phải hiểu
biết đă tách rời ra khỏi thế gian pháp hay chưa, Con Đường đă được
phát triển hay chưa.
Khi Con Đường đă
phát triển tốt đẹp th́ nó đánh đuổi thế gian pháp, trở thành ngày
càng vững chắc, ngày càng lớn mạnh. Chánh Kiến tăng trưởng, Tà
kiến giảm suy, cho đến sau cùng Con Đường tiêu diệt ô nhiễm -- nếu
không vậy th́ ô nhiễm sẽ tiêu diệt Con Đường.
Chánh Kiến và Tà
Kiến, chỉ có hai con đường ấy. Tà Kiến cũng có mánh khoé của nó,
quư vị biết không, nó có trí tuệ -- nhưng đó là trí tuệ được trá
h́nh. Vị hành giả bắt đầu phát triển Con Đường ắt có chứng nghiệm
một sự phân chia. Giống như là có hai người -- một trong thế gian
và một trên Con Đường. Nó phân chia tách rời ra. Bất luận lúc nào
hành giả quán chiếu ắt cảm giác sự phân chia ấy và nó tiếp tục
diễn tiến như vậy cho đến khi tâm thành đạt tuệ Minh Sát
(Vipassana).
Hoặc nữa, có thể
đó là Vipassanù! [10]. Đang cố gắng tạo những thành quả trong sạch
trong pháp hành, khi nh́n thấy nó chúng ta liền chụp lấy, bám chặt
vào nó. Loại bám níu nầy phát sanh từ ḷng ham muốn thành đạt một
cái ǵ trong pháp hành. Đó là vipassanù, trí tuệ của ô nhiễm (hay
tùy phiền năo). Vài người phát triển trạng thái tốt đẹp rồi bám
vào đó, họ phát triển trạng thái trong sạch và bám vào đó, hoặc họ
phát triển tuệ giác và bám vào đó. Hành động bám níu vào trạng
thái tốt đẹp hay tuệ giác là vipassanù. Nó len lỏi xâm nhập vào
pháp hành của chúng ta.
Như vậy, khi quư
vị phát triển Tuệ Minh Sát hăy thận trọng coi chừng! Hăy cẩn thận
nh́n xem có phải là vipassanù không, bởi v́ hai hiện tượng ấy rất
giống nhau, đến độ đôi khi ta không thể phân biệt. Tuy nhiên, với
Chánh Kiến chúng ta có thể nhận thức rơ ràng cả hai. Nếu là
vipassanù ắt có đau khổ phát sanh. Nếu thật sự là vipassanà, Tuệ
Minh Sát, th́ không có đau khổ. Có an lạc, c̣n hạnh phúc và đau
khổ, cả hai đều vắng bóng, im ĺm. Vài người khi đến đây hành
thiền không muốn có ǵ bận rộn. Họ không muốn bị chao động. Nhưng
họ cũng chao động như trước kia. Chúng ta phải t́m cách chấm dứt
chao động trong chính trạng thái chao động ấy! Như vậy, nếu có
chao động trong khi quư vị thực hành, đó là đúng. Nếu không có
chao động là không đúng, quư vị chỉ ăn và ngủ nhiều chừng nào cũng
được. Khi muốn đi đâu hay nói ǵ quư vị chỉ làm theo ư muốn. Như
vậy lời dạy của Đức Phật nghe không xuôi tai. Siêu thế quả thật
trái ngược với tại thế. Chánh Kiến đối nghịch với Tà Kiến, trong
sạch đối nghịch với ô trược, Giáo Huấn của Đức Phật va chạm tham
vọng của chúng ta.
Trong kinh điển có
một câu chuyện về Đức Phật trước khi Ngài Thành Đạo. Lần nọ, khi
có người dâng cúng một b́nh bát, Ngài lấy cái bát thả nổi trên
ḍng suối và chú nguyện trong ḷng, "Nếu ta sẽ thành Phật xin cái
b́nh bát nầy trôi ngược ḍng trở lên." Cái bát trôi trở lên, ngược
ḍng! Cái bát ấy là Chánh Kiến của Đức Phật, hay Phật tánh mà Ngài
sẽ thức tỉnh. Nó không theo một chiều với ḷng tham của hạng chúng
sanh thường. Nó trôi ngược ḍng trôi chảy của tâm chúng sanh, đối
nghịch trên mọi phương diện.
Ngày nay cũng vậy,
giáo huấn của Đức Phật đối nghịch với tâm chúng ta. Nó chỉ tiêu
diệt! Con người muốn buông lung, lăn trôi theo tham ái và sân hận,
nhưng Đức Phật không chịu vậy. Họ muốn ch́m đắm trong ảo kiến, mê
hoặc, nhưng Đức Phật tiêu trừ si mê.
Như vậy tâm Phật
đối nghịch với tâm chúng sanh. Người thế gian cho rằng thân nầy
đẹp đẽ, Ngài nói nó không đẹp. Họ nói thân nầy là của họ, Ngài nói
không phải vậy. Họ nói thân nầy có thực chất, Ngài nói không có.
Chánh Kiến vượt lên trên thế gian. Chúng sanh trong thế gian th́
buông trôi theo ḍng.
Tiếp theo câu
chuyện, khi Đức Phật rời khỏi nơi ấy có một vị bà la môn dâng đến
Ngài tám bó cỏ. Ư nghĩa thật sự của tám bó cỏ ấy là tám pháp thế
gian -- lợi lộc và lỗ lă, tán dương và khiển trách, danh thơm và
tiếng xấu, hạnh phúc và đau khổ. Nhận xong tám bó cỏ Đức Phật
quyết định ngồi trên đó và nhập định. Chính hành động ngồi trên cỏ
tự nó là nhập định, tức là tâm Ngài đă vượt lên trên tám pháp thế
gian, khắc phục thế gian cho đến khi chứng ngộ siêu thế pháp. Thế
gian pháp trở thành không c̣n ư nghĩa đối với Ngài. Ngài ngồi trên
cỏ nhưng cỏ không gây trở ngại cho tâm Ngài, bất luận bằng cách
nào. Những đạo binh của Ma Vương cố gắng cám dỗ Ngài, nhưng Ngài
chỉ ngồi đó, trong trạng thái nhập định, chế ngự thế gian cho đến
khi cuối cùng, chứng ngộ Giáo Pháp và hoàn toàn chiến thắng Ma
Vương. Đó là Ngài chiến thắng thế gian. Như vậy, chính pháp hành
nhằm phát triển Con Đường đă tiêu diệt ô nhiễm.
Con người ngày nay
không có nhiều đức tin. Khi đă thực hành trong một hay hai năm họ
muốn đến nơi ngay, và họ muốn đi nhanh. Họ không nghĩ rằng Đức
Phật, vị Thầy Tổ của chúng ta, xưa kia phải mất sáu năm trường sau
khi rời nhà, trước khi trở thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Cũng
v́ lư do ấy mà chúng ta có truyền thống "tự do ra khỏi lệ thuộc"
(Theo truyền thống nầy một vị mới xuất gia tỳ khưu phải sống "tùy
thuộc" nơi vị thầy tế độ ḿnh trong thời gian năm năm đầu tiên. Có
nghĩa là người mới thọ Cụ Túc Giới phải sống với thầy tế độ ḿnh
ít nhất là năm năm, rồi sau đó mới được "tự do" sống xa thầy.)
Đúng theo kinh điển, một vị tỳ khưu mới xuất
gia phải có tối thiểu năm hạ [11] mới được xem là có thể sống
riêng rẻ một ḿnh. Trong khoảng thời gian năm năm ấy vị tỳ khưu đă
học hỏi và thực hành đầy đủ, có đủ kiến thức thích nghi, đủ đức
tin và đủ phong độ tốt đẹp của một tỳ khưu. Người nào đă thực hành
nghiêm chỉnh tṛn đủ năm năm bên cạnh thầy, Sư cho rằng người ấy
đă thuần thục. Tuy nhiên, người ấy phải thật sự thực hành chớ
không phải chỉ "sống cho qua ngày tháng" với bộ y trong năm năm.
Vị ấy phải thận trọng theo dơi pháp hành, phải thật sự hành!
Cho đến khi trải
qua đủ năm hạ, quư vị có thể ngạc nhiên, "Cái mà Đức Phật gọi là
'tự do lệ thuộc' là ǵ?" Quư vị phải thật sự cố gắng tṛn đủ năm
năm, rồi sẽ tự ḿnh hiểu biết những đức tánh mà Đức Phật đề cập
đến. Sau thời gian ấy ắt quư vị sẽ thuần thục, tâm trí thuần thục,
và vững chắc không thối chuyển. Tối thiểu, sau năm hạ ta phải đạt
đến tầng giác ngộ đầu tiên. Đây không phải chỉ là năm hạ tu cho
thân mà cũng là năm hạ tu cho tâm. Vị sư ấy không để bị khiển
trách, có tánh hổ thẹn tội lỗi và luôn luôn khiêm tốn. Vị ấy không
dám hành động sai quấy, dầu trước mặt hay sau lưng mọi người, dầu
thanh thiên bạch nhựt hay trong đêm tối. Tại sao không dám? Bởi v́
vị ấy đă tiến đạt đến Đức Phật, "người hiểu biết". Vị ấy đă nương
tựa nơi Đức Phật, Đức Pháp, và Đức Tăng.
Muốn thật sự tùy
thuộc nơi Phật, Pháp, Tăng, chúng ta phải thấy Đức Phật. Không
biết Đức Phật mà nương tựa nơi Ngài th́ lợi ích ǵ? Nếu ta chưa
hiểu biết Phật, Pháp, Tăng th́ quy y Tam Bảo chỉ là việc làm của
thân và khẩu, c̣n tâm th́ chưa đạt đến Tam Bảo. Một khi tâm đă đạt
đến, ta sẽ biết Phật là như thế nầy, Pháp là như thế nầy, và Tăng
là như thế nầy. Chừng đó ta có thể thật sự nương tựa nơi Tam Bảo.
Bởi v́ Tam Bảo đă ở trong tâm ta. Bất luận đi nơi nào ta sẽ luôn
luôn có Phật, Pháp, Tăng cùng ở với ta.
Một người như thế
ấy không dám có hành động tội lỗi. V́ lẽ ấy ta nói rằng người đă
đạt đến tầng giác ngộ đầu tiên sẽ không c̣n sanh vào khổ cảnh. Tâm
của vị ấy đă vững chắc, Ngài đă bước vào Ḍng Suối (Nhập Lưu),
không c̣n hoài nghi nữa. Nếu không tiến đạt đến Toàn Giác trong
ngày hôm nay vị ấy chắc chắn sẽ đến nơi đến chốn trong một ngày vị
lai. Vị ấy có thể hành động lầm lạc, nhưng không lầm lạc quan
trọng đến đổi phải vào khổ cảnh, có nghĩa là vị nầy không thể
thoái bộ đến độ có thân nghiệp và khẩu nghiệp bất thiện, không thể
được. Do đó chúng ta nói rằng vị ấy đă bước vào hàng Thánh, không
thể thối chuyển. Đây là điều mà quư vị phải tự ḿnh thấy và hiểu
biết trong chính kiếp sống nầy.
Ngày nay, những ai
trong chúng ta c̣n hoài nghi về pháp hành, khi nghe vầy sẽ nói,
"ồ, làm thế nào tôi có thể được vậy?" Đôi khi chúng ta cảm nghe
hạnh phúc, lắm lúc bị giao động, bằng ḷng hay bực bội. V́ lẽ ǵ?
Bởi v́ chúng ta không thông hiểu Giáo Pháp. Giáo Pháp nào? Chỉ là
cái Giáo Pháp của Thiên Nhiên, cái thực tại bao quanh chúng ta,
thân và tâm. Đức Phật dạy, "Không nên bám níu vào ngũ uẩn, hăy
buông bỏ, để cho nó đi!" Tại sao chúng ta không thể để cho nó đi?
Chính v́ ta không thấy, hoặc không hiểu biết nó đầy đủ. Chúng ta
thấy nó là chúng ta, tự thấy chúng ta là ngũ uẩn. Hạnh phúc và đau
khổ, chúng ta thấy là chính ta. Ta thấy chúng ta trong hạnh phúc
và đau khổ. Chúng ta không thể tự tách rời ra khỏi hạnh phúc và
đau khổ. Không thể tách rời ra khỏi nó có nghĩa là chúng ta không
thể thấy Giáo Pháp, chúng ta không thể nh́n thấy Thiên Nhiên.
Hạnh phúc, đau
khổ, vui, và buồn -- không có cái nào là ḿnh, nhưng chúng ta lại
ngỡ là vậy. Những cảm xúc ấy đến giao tiếp với chúng ta và chúng
ta thấy một khối "attà", hay tự ngă. Nơi nào mà có tự ngă quư vị
sẽ t́m thấy hạnh phúc, đau khổ và tất cả mọi cái khác. Do đó Đức
Phật dạy hăy tiêu diệt "khối" tự ngă, tức là tiêu diệt thân kiến
(sakkàya ditthi). Khi tự ngă (attà) đă bị tiêu diệt ắt vô ngă
(anattà) tự nhiên phát sanh.
Chúng ta chấp
Thiên Nhiên là ta và chúng ta là Thiên Nhiên, và như vậy không
thật sự hiểu biết Thiên Nhiên đúng theo chân lư. Nếu nó tốt đẹp,
ta vui cười với nó, nếu nó xấu, ta khóc v́ nó. Nhưng Thiên Nhiên
chỉ giản dị là pháp hữu vi (sankhàra). Và như ta đọc tụng câu kinh
"Tesam vipassamo sukho" -- dứt được các pháp hữu vi là hạnh phúc
thật sự. Làm thế nào dứt được các pháp hữu vi? Chúng ta chỉ loại
trừ ḷng luyến ái, bám níu vào nó và nh́n thấy đúng thực tướng của
nó, thấy nó đúng như thật sự nó là vậy.
Như vậy, có chân
lư trong thế gian. Cây cối, núi non, và các loại dây leo, tất cả
đều sống theo chân lư của nó, sanh và diệt theo bản chất thiên
nhiên của nó. Chỉ riêng có chúng ta là không phải chân lư! Chúng
ta thấy nó và bận rộn lo lắng v́ nó, nhưng Thiên Nhiên vẫn b́nh
thản, nó chỉ là vậy. Chúng ta cười, chúng ta khóc, chúng ta giết
chóc, nhưng Thiên Nhiên vẫn nằm trong Chân lư, nó là Chân Lư. Dầu
ta có vui hay buồn thế nào, thân nầy chỉ đi theo con đường thiên
nhiên của nó. Nó được sanh ra, trưởng thành và già nua, luôn luôn
biến đổi, và mỗi lúc mỗi già thêm. Nó theo Thiên Nhiên như thế ấy.
Kẻ nào chấp rằng thân nầy là chính ḿnh và mang nó theo đi cùng
khắp với ḿnh, kẻ ấy sẽ đau khổ.
Do đó Ngài Anna
Kondanna (A Nhă Kiều Trần Như) nhận thức rằng "bất luận ǵ được
sanh ra" chỉ là tất cả mọi sự vật, dầu vật thể hữu h́nh hay vô
h́nh. Cái nh́n của Ngài đối với thế gian đă thay đổi. Ngài đă thấy
Chân Lư. Từ chỗ ngồi đứng dậy, Ngài mang Chân Lư ấy theo với ḿnh.
Tiến tŕnh sanh và tử vẫn liên tục tiếp diễn, nhưng Ngài chỉ nh́n
nó. Hạnh phúc và đau khổ phát sanh và hoại diệt, nhưng Ngài chỉ
ghi nhận. Tâm Ngài không biến đổi. Ngài không bao giờ c̣n rơi vào
khổ cảnh. Ngài không quá đổi vui mừng hay phiền muộn v́ những việc
ấy. Tâm Ngài vững chắc củng cố trong công tŕnh quán chiếu.
Đó! Ngài Kondanna đă thọ nhận Pháp Nhăn. Ngài
thấy Thiên Nhiên đúng theo Chân Lư, cái Thiên Nhiên mà ta gọi là
sankhàra, pháp hữu vi. Trí tuệ là cái ǵ nhận thức chân lư
của các pháp hữu vi. Đó là cái tâm hiểu biết và nhận thấy Giáo
Pháp.
Cho đến ngày nào
thấy được Giáo Pháp chúng ta c̣n phải nhẫn nại và kiên tŕ tự chế.
Chúng ta phải chịu đựng, chúng ta phải từ khước! Chúng ta phải
trau giồi hạnh chuyên cần và đức tánh bền dẽo chịu đựng. Tại sao
phải trau giồi hạnh chuyên cần? Bởi v́ chúng ta lười biếng. Tại
sao phải trau giồi đức tánh nhẫn nhục chịu đựng? Bởi v́ chúng ta
không nhẫn nhục chịu đựng. Đường lối là vậy. Nhưng khi chúng ta đă
kiên cố vững vàng trong pháp hành, đă chấm dứt lười biếng, chừng
đó sẽ không cần xử dụng đến hạnh chuyên cần. Nếu chúng ta đă hiểu
biết chân lư của tất cả những trạng thái tâm, nếu chúng ta không
thỏa thích hay buồn phiền v́ nó, ắt ta không cần đến hạnh nhẫn
nhục chịu đựng, bởi v́ tâm đă là Giáo Pháp. "Người hiểu biết" đă
trông thấy Giáo Pháp, đă là Giáo Pháp.
Khi tâm là Giáo
Pháp, nó dừng lại. Nó đă thành đạt An Lạc. Không cần phải đặc biệt
làm ǵ khác, bởi v́ tâm đă là Giáo Pháp. Bên ngoài là Giáo Pháp,
bên trong là Giáo Pháp. "Người hiểu biết" là Giáo Pháp. Trạng thái
đối tượng là Giáo Pháp, và cái hiểu biết trạng thái ấy là Giáo
Pháp. Nó là một. Nó tự do, giải thoát. Thiên Nhiên nầy không phải
được sanh ra, nó không già, không bệnh. Thiên Nhiên nầy không hoại
diệt. Thiên Nhiên nầy không thỏa thích cũng không buồn phiền,
không lớn không nhỏ, không nặng không nhẹ, không dài không ngắn,
không trắng không đen, không có cái ǵ mà quư vị có thể so sánh
với nó.. V́ lẽ ấy ta nói rằng Niết Bàn không màu sắc. Tất cả màu
sắc chỉ là quy ước, chế định. Trạng thái an lạc nầy vượt ra ngoài
thế gian, không có quy ước nào của thế gian có thể theo kịp nó.
Như vậy, Giáo Pháp
là cái ǵ đă vượt khỏi thế gian. là cái ǵ mà mọi người phải tự
ḿnh trông thấy. Nó vượt qua khỏi mọi ngôn ngữ. Chúng ta không thể
nói ra bằng lời hay viết ra thành chữ, quư vị chỉ có thể đề cập
đến đường lối và phương tiện để thành tựu. Người đă tự ḿnh thấy
nó là đă viên thành hoàn măn tất cả công phu của ḿnh.
Quy ước và Giải
thoát
... Bất luận
thời gian và địa điểm nào, toàn thể công phu thực hành Giáo Pháp
sẽ hoàn thành viên măn ngay tại nơi mà không c̣n ǵ. Đây là địa
điểm quy hàng, rỗng không, đặt xuống gánh nặng ...
Sự vật trên thế
gian chỉ là những quy ước mà chúng ta đă tạo nên. Chúng ta thiết
lập những quy ước rồi lạc lối trong đó và từ chối không chịu buông
bỏ, để cho tâm luyến ái phát sanh, bám níu chặt chẽ vào những quan
kiến riêng tư cá nhân và những công luận. T́nh trạng khăng khăng
nắm giữ nầy không bao giờ chấm dứt, nó là samsàra, ṿng luân hồi,
triền miên trôi chảy vô cùng tận. Nó không bao giờ hoàn tất. Bây
giờ, nếu chúng ta thông hiểu quy ước thật sự ắt chúng ta sẽ hiểu
biết Giải Thoát. Nếu thấu đạt rơ ràng Giải Thoát là thế nào ắt
chúng ta hiểu biết quy ước. Đó là thông hiểu Giáo Pháp. Nơi đây có
hoàn tất.
Lấy thí dụ con
người. Trong thực tế, con người sanh ra không có danh tánh. Khi
bước vào đời chúng ta chỉ đến ḿnh không. Nếu có tên th́ cũng do
quy ước. Sư đă suy gẫm về điểm nầy và thấy rằng nếu quư vị không
thông hiểu chân lư của quy ước nầy ắt có thể thật sự là nguy hại.
Nó chỉ là cái ǵ để ta thuận tiện xử dụng. Nếu không có nó chúng
ta sẽ không thể thông cảm nhau, không có ǵ để nói, không có ngôn
ngữ.
Sư đă thấy người
Tây Phương ngồi thiền chung với nhau. Khi xả thiền đứng dậy, đàn
ông đàn bà lẫn lộn, đôi khi người nầy vỗ đầu người kia. [12] Thấy
vậy Sư nghĩ, "Ô ḱa, nếu ta chấp vào quy ước ắt ô nhiễm phát sanh
tại đây." Nếu có thể buông bỏ quy ước, không cố chấp vào công luận
ắt chúng ta được an lạc.
Cũng như các vị
tướng lănh, các đại tá và những công chức cao cấp, những người có
địa vị xă hội, đến đây viếng Sư. Họ nói với Sư, "Bạch Sư, kính xin
Sư vui ḷng sờ vào đầu con". Họ đă nói như thế th́ không có ǵ sai
lầm. Họ vui vẻ để cho Sư sờ đầu. Nhưng nếu đi ngoài đường, giữa
thành phố mà vỗ vào đầu họ th́ đó là câu chuyện khác! Đó là v́ ta
bám níu vào quy ước. Do đó Sư nghĩ rằng buông bỏ, không cố chấp,
th́ thật sự là đường lối an lạc. Sờ vào đầu người khác là trái với
phong tục của ta. Nhưng thật sự có ǵ đâu. Khi mà họ đồng ư cho ta
sờ đầu th́ đâu có ǵ sai quấy. Nó cũng chỉ như ḿnh sờ một bắp cải
hay một củ khoai vậy thôi.
Chấp nhận, buông
bỏ, không cố chấp, đó là đường lối nhẹ nhàng. Bất luận nơi nào mà
quư vị bám chắc vào, tức "thủ", ắt có "hữu" và "sanh" ngay tại đó.
Đức Phật dạy về quy ước, và Ngài dạy "tháo gỡ"quy ước một cách
chân chánh, rồi theo đó, tiến đạt đến Giải Thoát. Đó là tự do,
không cố bám vào quy ước. Tất cả mọi sự vật trên thế gian đều có
một thực tại quy ước. Đă thiết lập, tạo nó ra, ta không nên để nó
chi phối, bởi v́ để bị lạc lối trong đó thật sự là đưa ḿnh vào
đau khổ. Điểm nầy, liên quan đến những điều luật và quy ước, quả
thật là tối quan trọng. Người đă vươn ḿnh vượt qua khỏi nó là đă
vượt qua khỏi khổ đau.
Tuy nhiên nó là
một đặc tánh của thế gian. Hăy lấy thí dụ Ông Boonmah. Trước kia
chỉ là một người tầm thường trong quảng đại quần chúng nhưng nay
th́ ông giữ chức Quận Trưởng. Chúc vụ chỉ là một quy ước, nhưng là
một quy ước mà ta phải tôn trọng. Nó là một phần của thế gian loài
người. Nếu quư vị nghĩ, "ờ, trước kia chúng ḿnh là bạn bè cùng
làm việc chung với nhau trong tiệm may", rồi vỗ vào đầu ông ấy
trước công chúng, ông ta sẽ tức giận, ông ta phật ḷng v́ thấy quư
vị làm như vậy là sai. Như vậy, chúng ta phải sống thuận chiều
theo quy ước để tránh làm cho người khác phật ḷng. Thông hiểu quy
ước quả thật là hữu ích, sống trong thế gian chỉ có bấy nhiêu.
Phải hiểu thế nào là đúng lúc, đúng nơi, và phải biết người.
Tại sao đi ngược
quy ước là sai quấy? Sai quấy v́ người ta! Quư vị phải sáng suốt
hiểu rơ cả hai, quy ước và Giải Thoát [13]. Nếu biết xử dụng những
điều luật và những quy ước một cách nhẹ nhàng thoải mái là ta đă
thuần thục tinh thông. Nhưng nếu chúng ta cố gắng giữ thái độ cao
cả trong hoàn cảnh sai lầm th́ đó là sai. Sai chỗ nào? Nó là sai
đối với những ô nhiễm của con người, không có chỗ nào khác. Tất cả
mọi người đều có ô nhiễm. Trong một hoàn cảnh nào ta phải cư xử
như thế nầy, và trong hoàn cảnh khác ta phải hành động theo lối
khác. Ta phải biết những lối vào và những lối ra, bởi v́ chúng ta
sống trong thế gian quy ước. Có nhiều vấn đề khó khăn xảy ra bởi
v́ con người dính mắc, bám chặt vào quy ước. Ta giả định nó là thế
nầy th́ nó là thế nầy. Nó là vậy bởi v́ chúng ta giả định nó là
vậy. Nhưng nếu chúng ta nh́n cặn kẻ tận tường, trong ư nghĩa tuyệt
đối, những việc ấy không thật sự hiện hữu , không bao giờ có.
Như Sư thường hay
nói, trước kia chúng ta là cư sĩ tại gia và nay là sư. Vào thuở ấy
chúng ta sống trong quy ước người "cư sĩ", và hiện giờ chúng ta
sống trong quy ước của "nhà sư". Chúng ta là nhà sư do quy ước,
không phải do Giải Thoát. Lúc ban sơ chúng ta thiết lập quy ước
như vậy, nhưng một người chỉ thọ giới tỳ khưu suông th́ không có
nghĩa là người ấy đă tiêu trừ ô nhiễm. Nếu ta hốt trong tay một
nắm cát và đồng ư với nhau gọi đó là muối, điều nầy có làm cho cát
trở thành muối không? Nó là muối, nhưng chỉ trong danh nghĩa,
không phải trong thực tại. Ta không thể đem ra nấu ăn. Danh nghĩa
"muối" chỉ dùng trong phạm vi của sự đồng ư nào đó, bởi v́ thật sự
nó không phải là muối, chỉ là cát. Nó chỉ trở thành muối do chúng
ta giả định là vậy.
Danh từ "Giải
Thoát" chính tự nó cũng chỉ là một quy ước, một danh từ, nhưng
danh từ quy ước ấy hàm xúc một trạng thái vượt ra ngoài các quy
ước. Đă thành tựu tự do, đă đạt đến Giải Thoát, chúng ta vẫn c̣n
phải dùng quy ước để đề cập đến nó như Giải Thoát. Nếu không có
quy ước chúng ta không thể thông cảm với nhau, như vậy nó vẫn có
lợi ích của nó.
Thí dụ, tất cả mọi
người đều có một cái tên riêng biệt, nhưng tất cả đều là người
giống nhau. Nếu không có tên để phân biệt nhau, khi gọi người nào
trong đám đông ta kêu, "Ê, người! người!" ắt không ai biết là kêu
ai, không ai biết là ai phải trả lời, bởi v́ tất cả đều là
"người". Bây giờ nếu ta gọi, "Ê, John!" ắt là John đến và những
người khác th́ không trả lời. Danh tánh chỉ để dùng như vậy. Nhờ
nó mà ta có thể hiểu biết, thông cảm nhau. Nó làm cho sự giao dịch
trong xă hội được dễ dàng.
Vậy, quư vị phải
biết cả hai, quy ước và Giải Thoát. Quy ước có lợi ích của nó,
nhưng trong thực tế không thật sự có. Chí đến con người, cũng
không có! Họ chỉ là những tổ hợp các nguyên tố đất, nước, lửa,
gió, sanh ra do nhân duyên, trưởng thành tùy thuộc những điều kiện
trợ duyên, hiện hữu trong một thời gian, rồi tan biến theo đường
lối thiên nhiên. Không ai có thể phản đối hay kiểm soát nó. Nhưng
nếu không có quy ước ắt không có ǵ để nói, không danh tánh, không
thực hành, không việc làm. Điều luật và quy ước được thiết lập để
cho ta một ngôn ngữ, để làm cho sự việc được thuận tiện, và chỉ có
thế.
Như tiền bạc chẳng
hạn. Thuở xưa nào có tiền đồng hay tiền giấy, đồng và giấy không
có giá trị ǵ. Người ta dùng vật liệu hay hàng hóa để đổi chác
nhau, những vật liệu và hàng hóa th́ kềnh càng, khó giữ. Do vậy ta
mới nảy sanh ra ư kiến đổi vật liệu làm ra tiền giấy và tiền đồng.
Có thể là trong tương lai sẽ có sắc lệnh của nhà vua ban truyền
phải bỏ hết tiền giấy và tiền đồng mà lấy sáp nấu chảy ra rồi ép
lại thành khối nhỏ. Ta gọi đó là tiền, và xử dụng khắp toàn quốc.
Không cần chi đến sáp, có thể một ngày kia người ta quyết định
dùng phân gà làm ra ra đồng tiền và dùng trong xứ -- không ǵ khác
có thể làm ra tiền, chỉ phân gà! Rồi người ta đánh đấm, chém giết
nhau để giành giựt phẩn gà! Nó là vậy. Quư vị có thể dùng nhiều
thí dụ khác nhau để hiểu rơ quy ước là như vậy. Vật liệu nào mà ta
có thể xử dụng để làm ra tiền chỉ là một thí dụ về quy ước mà ta
đặt để, và nó sẽ được xử dụng trong phạm vi của quy ước ấy. Sắc
lệnh đă được ban hành rằng đó là tiền, th́ nó trở thành tiền.
Nhưng trong thực tế, tiền là ǵ? Không ai có thể nói. Khi có một
sự đồng ư chung về điều ǵ, chúng ta quy định nó là vậy, và điều
quy ước ấy thỏa măn nhu cầu. Thế gian chỉ là vậy.
Đó là quy ước, nhưng làm cho một người thường
am hiểu được Giải Thoát th́ quả thật là khó. Tiền bạc của ta, nhà
cửa của ta, gia đ́nh của ta, con cái và thân bằng quyến thuộc của
ta, tất cả chỉ là quy ước mà chúng ta đă sáng tạo, nhưng trong
thực tế, dưới ánh sáng của Giáo Pháp, nó không phải là sở hữu của
ta. Nghe như vậy có thể ta không vừa ḷng, nhưng thực tế là như
vậy. Những sự vật ấy chỉ có giá trị do những quy ước được thiết
lập. Nếu ta quy định rằng nó không có giá trị th́ đương nhiên nó
không c̣n giá trị ǵ nữa. Nếu ta đặt để rằng nó có giá trị th́ nó
có giá trị. Nó là vậy. Chúng ta đưa quy ước vào thế gian để thỏa
măn một nhu cầu.
Cho đến cái thân
nầy cũng không phải thật sự là của ta, ta chỉ giả định rằng nó là
vậy. Trong thực tế, chỉ là giả định. Nếu quư vị cố gắng t́m một
bản ngă thật sự có thực chất trong cơ thể nầy, ắt quư vị không thể
t́m ra. Nó chỉ là những nguyên tố (đất, nước, lửa, gió) được sanh
ra, tồn tại một lúc, rồi diệt. Tất cả mọi sự vật đều như vậy.
Không có ǵ thật sự có thực chất trong đó, nhưng ta cần phải dùng
nó. Như cái tách. Vào một lúc nào cái tách phải bể, nhưng trong
khi nó c̣n nguyên vẹn đây, quư vị phải dùng và trông nom giữ ǵn
nó. Nó là vật để quư vị xử dụng. Nếu nó bể th́ phiền. Vậy, dầu
biết rằng nó phải bể một lúc nào, khi mà nó c̣n đây quư vị phải
hết ḷng ǵn giữ. Và cũng vậy, chúng ta có bốn món vật dụng mà Đức
Phật dạy tới dạy lui rằng chúng ta phải suy niệm khi dùng. Đó là
bốn món vật dụng cần thiết mà một nhà sư phải nương vào đó để tiếp
tục hành đạo. Ngày giờ nào c̣n sống quư vị phải tùy thuộc nơi nó,
nhưng phải hiểu biết, không nên bám níu vào, làm khơi dậy ái dục
trong tâm.
Quy ước và Giải
Thoát liên tục tương quan với nhau như thế ấy. Mặc dầu chúng ta
dùng quy ước, chớ nên đặt hết tin tưởng vào và xem đó là chân lư.
Bám vào nó ắt có đau khổ, Trường hợp Chánh và Tà là một thí dụ rơ
rệt. Vài người thấy Tà là Chánh và Chánh là Tà, nhưng thật sự cuối
cùng ai thật sự biết điều nào là Chánh điều nào là Tà? Chúng ta
không biết. Những người khác nhau thiết lập những quy ước khác
nhau về vấn đề Chánh và Tà, nhưng Đức Phật dạy lấy đau khổ làm
tiêu chuẩn. Nếu quư vị muốn tranh luận về điểm nầy, ắt không bao
giờ chấm dứt. Người nầy nói "Chánh", nguời kia nói "Tà". Người kia
nói "Tà", người nọ nói "Chánh". Trong thực tế ta không thật sự
hiểu biết Chánh hay Tà ǵ hết. Tuy nhiên, trên b́nh diện thực
dụng, chúng ta có thể gọi là Chánh điều ǵ không làm tổn hại đến
ta và không gây tổn hại cho người khác. Bằng cách ấy ta thỏa măn
một nhu cầu.
Như vậy nói cho
cùng, cả hai -- điều luật, quy ước và Giải Thoát -- chỉ giản dị là
những pháp (dhamma). Pháp nầy cao siêu hơn pháp kia, nhưng cả hai
cùng đi chung với nhau. Không cách nào ta có thể đảm bảo chắc chắn
rằng một điều nào đó nhất định là giống như thế nầy hay giống như
thế kia, do đó Đức Phật dạy ta chỉ để nó là vậy. Hăy để cho nó là
vô định. Dầu ta có ưa thích hay ghét bỏ thế nào, nên hiểu nó là
bất định.
Bất luận thời gian
hoặc địa điểm nào, pháp hành sẽ hoàn tất tại nơi mà không có ǵ
hết. Đó là địa điểm của quy hàng, của hư không, của t́nh trạng đặt
xuống gánh nặng. Đây là mức cùng tột. Không phải như người kia
bảo, "Tại sao lá cờ phất phơ trước gió? Tôi nói là v́ gió." Ngựi
khác nói là v́ cờ. Người nọ căi là v́ gió. Không bao giờ chấm dứt!
Cũng như thắc mắc được nêu lên từ xưa, "Con gà hay trứng gà đến
trước?" Không có cách nào đạt đến một kết luận dứt khoát. Chỉ là
Thiên Nhiên.
Những ǵ ta nói
trên chỉ là quy ước tự chính ta thiết lập. Nếu quư vị hiểu biết
những điều ấy với trí tuệ ắt quư vị sẽ hiểu biết Vô Thường, Khổ,
Vô Ngă. Đó là cái nh́n dẫn đến Giác Ngộ.
Quư vị biết không,
rèn luyện và dạy những người có tŕnh độ hiểu biết khác biệt quả
thật là rất khó. Vài người có ư kiến riêng, ḿnh nói với họ, họ
không tin ḿnh. Quư vị nói với họ sự thật, họ bảo là không đúng sự
thật. "Tôi nói đúng, quư vị sai ..." Không đi đến đâu. Không bao
giờ chấm dứt. Nếu quư vị không buông bỏ ắt có đau khổ. Trước đây
Sư có thuật cho quư vị nghe câu chuyện bốn người vào rừng. Họ nghe
tiếng gà gáy, "Kak-ka ... cheh". Một người trong đám hỏi, "Đó là
gà trống hay gà mái? " Ba người kia đồng ư là gà mái, nhưng người
nọ không chịu, nhất định là gà trống. Người ấy hỏi, "Gà mái làm
sao gáy được như vậy." Ba người căi lại, "Th́ nó cũng có mỏ vậy."
Họ căi qua căi lại cho đến chảy nước mắt, nước mũi, thật là phiền
muộn, thật là bực ḿnh v́ câu chuyện gà gáy, nhưng rồi tất cả đều
sai. Dầu quư vị gọi là gà trống hay gà mái, đó chỉ là danh từ, một
tiếng gọi. Chúng ta đặt ra những quy ước cho rằng gà trống là như
thế nầy, và gà mái là như thế kia. Gà trống gáy như thế nầy, gà
mái gáy như thế kia ... và v́ đó mà ta dính kẹt trong thế gian!
Hăy ghi nhớ điều ấy! Đúng ra, nếu quư vị chỉ nói rằng thật sự
không có gà mái và không có gà trống th́ đâu đó chấm dứt, hết
chuyện. Trong phạm vi thực tại quy ước có một đàng là phải, đàng
khác là sai, nhưng sẽ không bao giờ có sự đồng ư hoàn toàn. Tranh
luận cho đến chảy nước mắt cũng vô ích.
Đức Phật dạy không nên cố chấp. Tự rèn luyện
thế nào để không cố chấp? Chỉ giản dị luyện tập từ bỏ, không bám
níu, nhưng cái "không bám níu" ấy quả thật là rất khó hiểu. Phải
có trí tuệ sắc bén để quán chiếu thâm sâu và thấu hiểu tận tường
mới thật sự hoàn thành đức hạnh "không bám níu". Hăy suy tư về
điểm nầy. Người ta thỏa thích hay sầu muộn, hoan hỷ hay bực dọc,
không phải v́ có ít hay có nhiều -- mà do có trí tuệ hay không. Ta
chỉ có thể vượt qua tất cả mọi ưu sầu phiền muộn bằng trí tuệ,
bằng cách nhận thức thực tướng của sự vật.
Do đó Đức Phật kêu
gọi chúng ta nên quán chiếu và suy niệm. Suy niệm nầy chỉ là cố
gắng giải quyết các vấn đề ấy một cách thích nghi. Đó là pháp hành
của chúng ta. Như sanh, lăo, bệnh, tử -- là những diễn biến tự
nhiên, xảy đến mọi người. Đức Phật dạy nên suy niệm về sanh, lăo,
bệnh, tử nhưng vài người không hiểu, "Có ǵ đâu mà suy niệm?" Họ
bảo vậy. Họ được sanh ra, mà không hiểu sanh là ǵ. Họ sẽ chết
nhưng không hiểu chết là như thế nào.
Người thường xuyên
quán chiếu những hiện tượng ấy sẽ thấy. Đă nhận thấy, họ từ từ
giải quyết những vấn đề khó khăn của họ. Cho dù người ấy vẫn c̣n
luyến ái, nếu có trí tuệ và trông thấy rằng già, bệnh, chết là con
đường của Thiên Nhiên th́ đau khổ cũng suy giảm. Chúng ta học Giáo
Pháp chỉ để có bấy nhiêu -- chữa bệnh đau khổ. Căn bản của Phật
Giáo thật ra chỉ có chừng ấy -- chỉ có sanh và diệt của đau khổ,
và đó là điều mà Đức Phật gọi là Chân Lư. Sanh là khổ, già là khổ,
bệnh là khổ, chết là khổ. Người ta không thấy đau khổ là Chân Lư.
Nếu ta thông hiểu Chân Lư ắt hiểu biết đau khổ.
Hănh diện bênh vực
những ư kiến riêng tư của ḿnh, những cuộc tranh luận ấy không bao
giờ chấm dứt. Để giữ cho tâm được an nghĩ, để t́m an lạc thanh
b́nh, chúng ta phải suy niệm về quá khứ, hiện tại và những ǵ c̣n
tích trữ, dành để cho ta. Như sanh, lăo, bệnh, tử. Ta có thể làm
sao để tránh khỏi phải bị những điều ấy làm phiền lụy? Dầu c̣n
chút ít lo âu, nếu chúng ta quán chiếu cho đến khi thấu hiểu đúng
chân lư, tất cả mọi đau khổ ắt suy giảm, và chúng ta sẽ không c̣n
ôm ấp vấn vương nó nữa.
Không nơi ẩn náu
... Đường lối
của thế gian là làm việc ǵ phải có lư do, phải có ǵ đền đáp
trở lại mới làm, nhưng trong Phật Giáo chúng ta làm mà không có
ư cầu mong lợi lộc. Nếu không cầu mong ǵ th́ chúng ta sẽ được
ǵ? Không được ǵ hết! Bất luận ǵ trở lại với ta chỉ là nguyên
nhân sanh đau khổ, do đó chúng ta thực hành để không được ǵ ...
Chỉ làm cho tâm thanh b́nh an lạc, và như thế là đủ ...
Chúng ta nghe vài
đoạn trong Giáo Huấn của Đức Phật mà không thể lănh hội thật sự.
Rồi ta nghĩ rằng nó phải thế nào khác chớ không phải vậy, và không
hành theo. Tuy nhiên, trong toàn thể Giáo Huấn, điểm nào cũng có
lư do của nó. H́nh như sự vật phải là thế nào khác chớ không phải
vậy, nhưng sự vật là vậy. Lúc ban sơ chính Sư cũng không tin tưởng
nơi pháp tọa thiền. Sư không thấy lợi ích ǵ mà chỉ ngồi đó rồi
nhắm mắt lại. Thiền hành cũng vậy ... đi từ gốc cây nầy đến gốc
cây kia, rồi quay trở lại và đi tới đi lui hai gốc cây ... "Tại
sao phải làm vậy cho phiền phức?" Sư nghĩ, "Đi như thế lợi ích ǵ
mà cứ đi măi?" Sư ngỡ là vậy, nhưng trong thực tế, thiền tọa và
thiền hành quả thật vô cùng hữu ích.
Vài người có
khuynh hướng thích đi kinh hành hơn ngồi thiền, người khác thích
ngồi thiền hơn đi kinh hành, nhưng ta không thể hành pháp nầy mà
không hành pháp kia. Kinh điển đề cập đến bốn oai nghi: đi, đứng,
nằm, ngồi. Chúng ta sống với bốn oai nghi ấy. Ta có thể thích oai
nghi nầy hơn oai nghi khác, nhưng phải xử dụng đủ tất cả bốn.
Chúng ta được dạy
phải làm cho bốn oai nghi đồng đều, phải hành động đều đặn trong
bốn oai nghi. Lúc đầu Sư không thể hiểu biết ư nghĩa của lời dạy
làm cho bốn oai nghi đồng đều. Có thể là ngồi trong hai tiếng, rồi
đứng trong hai tiếng, đi trong hai tiếng ... Có thể vậy chăng? Sư
cố gắng thực hành như vậy -- không được! Vậy th́ hiểu như thế là
sai, làm cho oai nghi đồng đều không có nghĩa là như vậy. Đoạn văn
"làm cho oai nghi đồng đều" đề cập đến tâm, đến sự hay biết của
ta. Đó là làm cho tâm khai triển trí tuệ, làm cho tâm trở nên sáng
tỏ. Trí tuệ của ta phải hiện hữu trong tất cả oai nghi, Ta phải
luôn luôn hiểu biết, liên tục thông hiểu, không ngừng, không gián
đoạn. Đi, đứng, nằm, ngồi, chúng ta luôn luôn hiểu rằng tất cả
những trạng thái tâm đều Vô Thường, Khổ, Vô Ngă. Làm cho các oai
nghi đồng đều bằng cách đó th́ có thể được. Dầu có trạng thái ưa
thích hay ghét bỏ hiện hữu trong tâm ta không quên pháp hành là
luôn luôn hay biết, luôn luôn giác tỉnh.
Chỉ tập trung sự
chú ư nơi tâm, luôn luôn như vậy không ngừng nghỉ, ắt ta sẽ nắm
được điểm chánh yếu của pháp hành. Dầu có chứng nghiệm những trạng
thái tâm mà người đời cho là tốt hay xấu, ta không tự quên ḿnh,
không để ḿnh lạc lối trong cái tốt hay cái xấu. Ta chỉ thẳng
tiến. Làm cho các oai nghi đồng đều như thế ấy là có thể được. Nếu
ta giữ được pháp hành đồng đều như vậy và được khen, th́ đó chỉ là
lời khen tặng. Nếu có bị khiển trách, đó chỉ là lời khiển trách.
Ta không hứng khởi, cũng không mất tinh thần, mà chỉ ở ngay tại
chỗ. Tại sao? Bởi v́ ta đă thấy hiểm họa trong tất cả những điều
ấy, ta thấy hậu quả của nó. Chúng ta luôn luôn nhận thức sự nguy
hại của cả hai, những lời tán dương và những lời khiển trách. Thế
thường, lúc vui vẻ th́ tâm cũng khoan khoái dễ chịu, khi buồn
phiền th́ tâm cũng âu sầu, ta không thích. Thường là vậy, đó là
pháp hành không đồng đều.
Nếu ta giữ được
đồng đều, chỉ trong mức độ hiểu biết những xúc cảm vui buồn thôi,
và hiểu biết rằng ḿnh đang bám níu vào nó, bấy nhiêu đă tốt hơn
rồi. Đó là ta có sự hay biết, giác tỉnh. Ta hiểu biết chuyện ǵ
đang xảy diễn, nhưng chưa có thể buông bỏ. Chúng ta tự thấy ḿnh
đang bám níu vào những ǵ tốt đẹp và những ǵ xấu xa, và nhận thức
như vậy. Ta bám vào điều tốt và hiểu biết rằng đó không phải là
hành đúng, nhưng vẫn chưa có thể buông bỏ. Như vậy là cũng được
50% hoặc 70% pháp hành rồi. Chưa hẳn là hoàn toàn, nhưng ta biết
rằng nếu có thể buông bỏ th́ đó là đường lối để tiến đạt đến thanh
b́nh an lạc. Ta tiếp tục gia công tinh tấn như vậy và nhận thức
rằng hậu quả của cả hai -- những ǵ ta ưa thích và những ǵ ta
ghét bỏ, những lời tán dương và những lời khiển trách -- đều tai
hại như nhau. Bất luận ǵ xảy đến tâm, vẫn một mực b́nh thản.
Tuy nhiên, đối với
người thế gian, khi bị chỉ trích hay khiển trách th́ họ thật sự
buồn phiền. Lúc được tán dương th́ phấn khởi lên và nói đó là điều
tốt đẹp và họ thật sự hoan hỷ. Nếu chúng ta thấu hiểu chân lư của
những xúc cảm vui buồn, nếu chúng ta nhận thức những hậu quả của
t́nh trạng bám níu chặt chẽ vào những lời khen và tiếng chê, hậu
quả tai hại của sự bám níu vào bất luận ǵ, chúng ta sẽ nhạy cảm
hơn trong những cơn buồn vui, thỏa thích hay sầu muộn. Ta sẽ nhận
thức rằng trạng thái bám níu thật sự là nguồn gốc làm phát khởi
đau khổ. Chúng ta thấy đau khổ ấy và chúng ta thấy chính bám níu
là nguyên nhân sanh đau khổ. Chúng ta bắt đầu nhận thức hậu quả
tai hại của hành động chụp lấy và bám chắc vào những ǵ tốt và
những ǵ xấu, bởi v́ trước đó ta đă nắm chặt và đă thấy hậu quả
như thế nào -- không phải là hạnh phúc thật sự. Giờ đây ta t́m con
đường buông bỏ.
"Con đường dẫn đến
buông bỏ" ấy ở đâu? Trong Phật Giáo, chúng ta nói, "Không nên bám
níu vào bất luận ǵ." Luôn luôn chúng ta nghe nhắc tới, nhắc lui,
"Không nên bám níu vào bất cứ ǵ!" Lời dạy nầy có nghĩa là hăy nắm
lấy mà không nên giữ chắc lại. Như cây đèn bin (flashlight) đây.
Ta tự hỏi, "cái ǵ đây?" Rồi ta cầm lên, "ờ, đây là cây đèn bin",
và ta đặt xuống trở lại. Nắm lấy sự vật là như vậy. Nếu không nắm
lấy ǵ hết th́ có thể làm ǵ? Chúng ta không thể đi kinh hành hoặc
làm bất luận ǵ khác. Như vậy, trước tiên ta phải nắm lấy. Đó là
có ư muốn, đúng thật vậy, nhưng về sau nó sẽ dẫn đến "parami", ba
la mật [14]. Thí dụ như có ư muốn đi đến đây ... nên Jàgaro [15]
mới đi đến Wat Pah Pong ... , trước tiên ông ấy phải có ư muốn.
Nếu ông ấy không cảm nghe có ư muốn đi, ắt ông không có đi. Đối
với tất cả mọi người đều như vậy, họ đến đây v́ muốn đến. Nhưng
khi ư muốn phát sanh, chớ nên cố bám vào nó. Vậy, quư vị đến rồi
trở về ... Cái ǵ đây? Ta nhặt lên cầm trên tay, nh́n và thấy, "ờ,
đây là cây đèn bin", rồi đặt xuống. Đó là nắm lấy mà không giữ
chắc, chúng ta buông bỏ. Biết, rồi buông bỏ. Một cách đơn giản, ta
nói, "hiểu biết và buông bỏ". Cầm lên nh́n rồi bỏ xuống. "Điều nầy
người ta nói là tốt, điều nầy người ta nói là xấu" ... biết, rồi
buông bỏ. Tốt và xấu, ta hiểu biết, nhưng để cho tất cả đi qua. Ta
không điên rồ cố bám vào sự vật, nhưng ta "nắm lấy" với trí tuệ.
Pháp hành "trong oai nghi" nầy có thể hành đồng đều. Quư vị phải
hành đồng đều như vậy. Làm cho tâm hiểu biết như thế ấy sẽ khơi
động cho trí tuệ khai triển. Khi tâm có trí tuệ th́ c̣n ǵ nữa mà
t́m?
Phải suy tư về
những ǵ mà ta đang làm ở đây. V́ lư do nào mà ta sống ở đây, làm
việc để làm ǵ? Trong thế gian, người ta làm việc để thọ hưởng
điều nầy hay điều nọ, nhưng các nhà sư dạy thâm sâu hơn một chút.
Bất luận điều ǵ ta làm, ta không đ̣i hỏi được đền đáp. Chúng ta
làm việc để không thọ hưởng ǵ. Người đời làm việc bởi v́ họ muốn
cái nầy cái nọ, họ muốn được hưởng một món lợi nào. Nhưng Đức Phật
dạy ta làm việc chỉ để làm việc, không đ̣i hỏi bất luận ǵ hơn
nữa. Nếu quư vị làm việc ǵ chỉ v́ muốn được đền đáp lại th́ đó là
nguyên nhân sanh đau khổ. Quư vị hăy tự ḿnh làm thử xem! Quư vị
muốn tâm được an lạc nên ngồi thiền và cố gắng làm cho tâm an lạc
-- quư vị sẽ đau khổ. Hăy cố gắng thử xem. Đường lối của chúng ta
có phần tế nhị hơn. Chúng ta làm, rồi buông bỏ; làm, rồi buông bỏ.
Thử nh́n vị
Bà-la-môn tế lễ thần linh; ông ta có một ư muốn trong tâm rồi mới
tế lễ để van vái cầu xin cho ư muốn ấy được thành tựu. Hành động
như vậy không thể giúp ông vượt khỏi đau khổ, bởi v́ ông làm với
ḷng mong muốn sẽ được một điều ǵ, làm v́ cầu mong được ban bố
một quyền lợi nào. Lúc ban sơ chúng ta thực hành với một vài ước
muốn trong tâm, chúng ta thực hành, tiếp tục thực hành, nhưng
không đạt được điều mong muốn. Do đó chúng ta hành cho đến khi đạt
đến điểm mà ta chỉ hành, không cầu mong được ǵ. Ta thực hành để
buông bỏ. Đây là điều mà ta phải tự ḿnh nhận thấy, điểm nầy rất
thâm sâu. Có thể ta thực hành v́ muốn chứng đắc Niết Bàn -- ngay
tại đây ta kẹt cứng, không thể đắc Niết Bàn! Lẽ dĩ nhiên là ta
muốn an lạc, nhưng muốn như vậy không thật sự là đúng. Ta phải
thực hành mà không muốn ǵ cả. Nếu không muốn ǵ cả th́ hành rồi
được ǵ? Không được ǵ hết! Bất luận ǵ mà ta được chỉ là nguyên
nhân tạo đau khổ. Do vậy, chúng ta thực hành để không được bất cứ
ǵ.
Chỉ có như vậy
được gọi là "làm cho tâm trống không". Trống không nhưng vẫn sinh
hoạt. Chính trạng thái rỗng không nầy là điều mà thông thường
người ta không hiểu, nhưng những ai đă đạt đến đó ắt nhận thấy
rằng hiểu biết nó là lợi ích. Đây không phải là trạng thái rỗng
không, không chứa đựng ǵ hết mà là sự rỗng không bên trong những
sự vật hiện hữu ngay tại đây. Như cây đèn bin nầy chẳng hạn, ta
phải thấy cây đèn bin nầy là trống không bởi v́ có trạng thái rỗng
không của cây đèn. Không phải là trống không nơi mà ta không thấy
ǵ, không phải vậy, hiểu như vậy là sai. Quư vị phải thấu hiểu
trạng thái rỗng không bên trong những sự vật hiện hữu ngay tại
đây.
Những ai c̣n hành
thiền để được hưởng ǵ là cũng giống như vị bà la môn tế lễ thần
linh, chỉ để được cung ứng một vài nhu cầu. Cũng giống như có
người đến đây viếng Sư để được Sư rảy "nước thánh". Khi Sư hỏi họ,
"Tại sao muốn được rảy nước?" Họ trả lời, "Bạch Sư, bởi v́ con
muốn sống lâu, sống thoải mái, hạnh phúc và không bệnh hoạn." Đó!
Họ không bao giờ vượt qua khỏi đau khổ bằng cách ấy. Đường lối của
thế gian là làm việc ǵ phải có lư do, phải có ǵ đền bù trở lại
mới làm, nhưng trong Phật Giáo chúng ta làm mà không có ư mong cầu
bất luận ǵ. Người thế gian phải hiểu biết sự vật theo chiều hướng
của định luật nhân quả, nhưng Đức Phật dạy ta vượt lên trên, vượt
qua khỏi nhân và quả. Trí tuệ của Ngài đă vượt lên trên sanh và
qua khỏi tử, vượt lên trên hạnh phúc và qua khỏi đau khổ. Hăy suy
gẫm về điểm nầy ... không có nơi nào để ẩn náu. Người thường chúng
ta sống trong một "ngôi nhà". Giờ đây rời khỏi nhà và đi đến nơi
không có nhà cửa ... chúng ta không biết phải làm thế nào, bởi v́
chúng ta luôn luôn sống với "hữu" (hành động tạo nghiệp), với
"thủ" (bám níu chặt chẽ) . Nếu không c̣n "thủ" nữa th́ ta không
biết làm ǵ.
Do đó, phần lớn
chúng ta không muốn đi Niết Bàn, ở đó không có ǵ, không có ǵ
hết. Hăy nh́n trên mái nhà và dưới sàn nhà đây. Phía trên tận cùng
là mái nhà, đó là "hữu". Phía dưới tận cùng là sàn nhà, đó là một
"hữu" khác. Nhưng khoảng không gian rỗng không ở giữa mái nhà và
sàn nhà th́ không có chỗ nào để đứng. Người ta có thể đứng trên
mái nhà hoặc trên sàn nhà, nhưng không thể đứng trong không gian
rỗng không. Nơi nào không có "hữu", đó là nơi rỗng không và hăy
nói trắng ra, chúng ta nói Niết Bàn là khoảng không gian rỗng
không ấy. Người ta nghe vậy và chùn bước, thối lui, không muốn đi.
Họ lo sợ sẽ không gặp lại con cái và họ hàng thân thuộc.
Đó là lư do tại sao khi đọc kinh phúc chúc cho
người cư sĩ tại gia chúng ta nói, "Phúc chúc cho ông (hay bà) được
sống lâu, có sắc đẹp, hạnh phúc, và khoẻ mạnh." Nói như vậy th́ họ
thật sự hoan hỷ, "Sàdhu! Sàdhu!" (Lành thay! Lành thay!). Họ thích
những chuyện như vậy. Nếu quư vị bắt đầu nói đến "trạng thái rỗng
không" th́ họ không muốn, họ c̣n dính mắc nhiều với "hữu". Nhưng
có bao giờ quư vị thấy một người già với thân h́nh tráng kiện, đẹp
đẽ, không? -- Không. Tuy nhiên ta nói, "sống lâu, sắc đẹp, hạnh
phúc, và khoẻ mạnh" th́ tất cả đồng thanh nói, "Sàdhu! Sàdhu!".
Cũng giống như vị bà la môn tế lễ thần linh để cầu mong thành tựu
một vài ước nguyện của ḿnh. Trong pháp hành của chúng ta không có
"nghi thức tế lễ". Chúng ta hành, không phải để được đáp lại một
lợi ích nào. Chúng ta không muốn ǵ hết. Nếu chúng ta c̣n muốn
điều ǵ ắt vẫn c̣n điều ǵ đó. Chúng ta chỉ làm cho tâm an lạc, đủ
rồi! Nhưng nếu Sư nói như vậy có thể quư vị cảm nghe không được
thoải mái, bởi v́ quư vị c̣n muốn "tái sanh", sanh trở lại để sống
nữa.
Như vậy, quư vị
hành giả cư sĩ nên đến gần chư sư để xem chư Tăng hành thế nào.
Gần với chư sư có nghĩa là gần với Đức Phật, gần với Giáo Pháp.
Đức Phật dạy, "Nầy Ànanda, hăy thực hành cho thật nhiều, hăy phát
triển pháp hành của con! Người nào thấy Giáo Pháp tức thấy Như
Lai, và người nào thấy Như Lai ắt thấy Giáo Pháp." Đức Phật ở đâu?
Chúng ta có thể nghĩ rằng Đức Phật thị hiện trên thế gian và đă
tịch diệt, nhưng Đức Phật là Giáo Pháp, là Chân Lư. Vài người
thích nói, "ồ, phải chi tôi được sống vào thời Đức Phật chắc là
tôi đă chứng đắc Niết Bàn." Đấy, người điên rồ nói như vậy. Đức
Phật vẫn c̣n ở đây. Đức Phật là Chân Lư. Dầu có ai được sanh ra,
hay có ai từ trần, Chân Lư vẫn c̣n đây. Chân Lư không bao giờ rời
thế gian mà luôn luôn ở đây. Dầu Đức Phật có giáng trần hay không,
dầu có ai biết đến cùng không, Chân Lư vẫn c̣n đó. Như vậy ta phải
đến gần, phải bước vào bên trong và t́m ra Giáo Pháp. Khi tiến đạt
đến Giáo Pháp sẽ đạt đến Đức Phật; thấy Giáo Pháp ta sẽ thấy Đức
Phật và tất cả mọi hoài nghi sẽ tan biến.
Một thí dụ đơn
giản, như trường hợp Giáo Sư Choo. Trước kia ông không phải là
giáo sư mà chỉ là Ông Choo. Khi ông học xong các lớp và đă đỗ các
chứng chỉ cần thiết ông mới trở thành giáo sư và được gọi là Giáo
Sư Choo. Ông làm thế nào để trở thành giáo sư? Phải trải qua các
lớp học và học những môn cần thiết. Những ǵ cần phải học ấy làm
cho ông trở thành Giáo Sư Choo. Đến khi Giáo Sư Choo từ trần, các
lớp và các môn học ấy vẫn c̣n đó, và ai khác theo học đúng như vậy
cũng trở thành giáo sư như ông. Các lớp, các môn học ấy không biến
mất đi đâu. Chỉ giống như Chân Lư mà nhờ thông suốt nó Đức Phật
trở thành Phật. Như vậy Đức Phật vẫn c̣n đây. Bất luận ai thực
hành và thấy được Giáo Pháp ắt thấy Đức Phật. Hiện nay người ta
hiểu biết sai lạc hết, người ta không biết Đức Phật ở đâu. Họ nói,
"Phải chi tôi sanh vào thời Đức Phật tôi đă theo làm đệ tử Ngài và
đă chứng đắc Đạo Quả." Đó chỉ là điên rồ, quư vị phải biết, đó là
điên rồ.
Không nên nghĩ
rằng vào cuối mùa An Cư Kiết Hạ nầy quư vị sẽ hoàn tục. Chớ nghĩ
vậy! Trong khoảnh khắc, một ư nghĩ bất thiện có thể đột nhiên khởi
phát trong tâm và quư vị có thể giết người. Cùng thế ấy, chỉ trong
nháy mắt tư tưởng thiện có thể phực nhoáng trong tâm và quư vị đă
đến nơi. Không nên nghĩ rằng phải xuất gia lâu năm mới có thể hành
thiền. Nơi nào có pháp hành chân chánh, trong chớp nhoáng ta tạo
nghiệp. Trong chớp nhoáng một tư tưởng bất thiện phát sanh ... và,
trước khi hay biết nó, ta đă tạo nghiệp vô cùng quan trọng. Cùng
thế ấy, tất cả các vị đệ tử của Đức Phật trải qua thời gian lâu
dài để thực hành, nhưng chứng ngộ th́ chỉ trong một chập tư tưởng
(tức một sát na tâm). Vậy, không nên dể duôi buông lung, dầu trong
những việc nhỏ nhặt. Hăy nỗ lực tinh tấn, gia công chuyên cần để
đến gần chư Tăng, hăy quán chiếu sự vật và chừng ấy quư vị sẽ hiểu
biết chư sư.
Đă đủ rồi phải không? Đêm đă khuya, vài người
đă buồn ngủ. Đức Phật nói không nên dạy những người buồn ngủ.
Chánh kiến -- nơi
an trú mát mẻ
... Chúng ta bất
măn, không bằng ḷng, v́ mang nặng Tà Kiến. V́ không tập luyện
thu thúc lục căn chúng ta phiền trách ngoại cảnh làm cho ḿnh
đau khổ ... ẩn náu chân chánh của chư sư, nơi an trú mát mẻ,
chính là Chánh Kiến. Chúng ta không nên t́m ở đâu khác ...
Thực hành Giáo
Pháp là đi ngược ḍng những thói quen của ta, chân lư đi ngược
chiều những tham vọng của chúng ta, do đó thực hành Giáo Pháp quả
thật là khó. Một vài sự việc mà ta hiểu là sai có thể là đúng,
trong khi những điều mà ta nghĩ là đúng lại có thể sai. Tại sao
vậy? Bởi v́ tâm của ta ở trong đêm tối, chúng ta không thấy rơ
Chân Lư. Chúng ta thật sự không hiểu ǵ và bị tánh gian dối của
người đời phỉnh gạt. Họ chỉ điều chân chánh, bảo là sai lầm, và
chúng ta tin thật. Điều sai lầm, họ nói là đúng, và ta tin. Đó là
bởi v́ ta chưa làm chủ được chính ta. Những cảm xúc vui buồn luôn
luôn phỉnh lừa ta. Chúng ta không nên lấy cái tâm nầy và những ư
kiến của nó làm kim chỉ nam để nó hướng dẫn ta trên đường đời, bởi
v́ nó không thấu hiểu chân lư.
Vài người không
muốn nghe lời ai cả, nhưng đó không phải là đường lối sáng suốt.
Người có trí tuệ lắng nghe tất cả. Người nghe Giáo Pháp phải một
mực chăm chú lắng nghe dầu có ưa thích cùng không, và không vội
nhắm mắt tin càng, cũng không vội bác bỏ một cách mù quáng. Phải ở
nửa đường, vào điểm giữa, và không hờ hững buông lung. Người ấy
chỉ lắng nghe rồi suy gẫm, để cho thành quả thích nghi của suy tư
khởi phát.
Người có trí tuệ
phải suy gẫm về những ǵ ḿnh nghe và trước khi tin cùng không,
phải tự ḿnh nhận thấy nguyên nhân và hậu quả. Dầu vị thầy nói
đúng mà tự chính ḿnh chưa rơ được chân lư th́ cũng không nên vội
tin chỉ v́ ḿnh nghe vậy. Phải tự ḿnh thấu hiểu rơ ràng rồi mới
tin.
Điều nầy phải được áp dụng cho tất cả, cho đến
Sư cũng vậy. Sư đă có thực hành trước quư vị, trước đây Sư đă có
thấy nhiều điều gian dối. Thí dụ, "Pháp hành nầy quả thật là khó,
thật sự là cam go." Tại sao pháp hành nầy khó? Chỉ v́ chúng ta suy
tư sai lầm, chúng ta có Tà Kiến.
Trước đây Sư sống
với nhiều vị sư khác, nhưng không cảm nghe rằng sống như vậy là
đúng. Sư bỏ đi vào rừng và lên núi, lẫn trốn đám đông các nhà sư
và các chú sa di. Sư nghĩ rằng họ không giống Sư, không chịu khó
chuyên cần như Sư. Họ chểnh mảng, không dốc ḷng hành đạo. Người
nầy th́ như thế nầy, người kia như thế kia. Đó là điều thật sự làm
cho Sư bận rộn tâm trí và đó là nguyên nhân làm cho Sư luôn luôn
bỏ chạy. Tuy nhiên, dầu ở một ḿnh hay ở chung với những người
khác Sư vẫn không an lạc. Sống đơn độc, Sư không bằng ḷng. Sống
với đông đảo chư sư, Sư cũng không bằng ḷng. Sư nghĩ rằng t́nh
trạng bất măn ấy là do những người đồng tu với ḿnh, do những cảm
xúc buồn vui của ḿnh, v́ chỗ ở, v́ vật thực, v́ khí hậu, v́ cái
nầy, v́ cái kia ... Sư luôn luôn chạy t́m điều ǵ thích nghi với
tâm tánh ḿnh.
Lúc bấy giờ Sư là
nhà sư thực hành hạnh đầu đà dhùtanga [16], Sư đi hành đạo
nơi nầy nơi khác, nhưng sự vật vẫn chưa phải là đúng theo ư. Rồi
Sư mới suy gẫm, " Giờ đây ta phải làm ǵ để tạo hoàn cảnh thích
nghi? Ta có thể làm ǵ? Sống chung với đông người ta không thỏa
măn, với ít người ta không bằng ḷng. Tại sao vậy? Sư không thể
t́m ra lư do. Tại sao Sư không thỏa măn? Bởi v́ lúc bấy giờ Sư c̣n
Tà Kiến, nhận thức sai lầm, chỉ có thế; bởi v́ Sư c̣n cố bám vào
Tà Pháp. Bất cứ đi đâu Sư cũng không bằng ḷng, nghĩ rằng, "Nơi
nầy không tốt, chỗ kia không tốt ..." măi măi như vậy. Sư trách
móc người khác, đổ lỗi cho thời tiết nóng quá hay lạnh quá, Sư đổ
lỗi cùng hết! Cũng giống như con chó dại. Gặp đâu cắn đó, bởi v́
nó điên. Khi mà tâm là như vậy th́ pháp hành của ta không bao giờ
được kiên cố vững vàng. Hôm nay cảm nghe thoải mái dễ chịu, ngày
mai bực bội ưu phiền. Luôn luôn như vậy. Không bao giờ thấy bằng
ḷng hay an lạc.
Ngày kia Đức Phật
thấy con chó rừng từ chỗ nó ở trong rừng chạy ra. Nó đứng yên một
lúc. Bỏ chạy vào bụi rậm, rồi chạy trở lại. Rồi chạy vào một bọng
cây, và chạy ra. Chạy vào hang đá, cũng để rồi chạy ra. Đứng yên
một chút là bỏ chạy, chạy rồi nằm xuống, rồi nhảy dựng lên ... chó
bị con vét đeo. Khi chó ở yên th́ vét cắn hút máu, v́ thế nó phải
chạy hoài. Chạy, nhưng nghe không thoải mái nên nằm, và rồi nhảy
lên trở lại, chạy vào bụi rậm, vào bọng cây, vào hang đá, không
bao giờ ở yên.
Đức Phật dạy, "Nầy chư tỳ khưu, hồi trưa nầy
các con có thấy con chó rừng đó không? Đứng yên, nó đau khổ. Chạy,
nó đau khổ. Nằm, nó đau khổ. Ở trong bụi rậm, trong bọng cây,
trong hang đá, nó vẫn đau khổ. Nó phiền trách v́ tại đứng nên
không thoải mái. Nó than van v́ tại ngồi, tại chạy, tại nằm, nên
khó chịu. Nó đổ lỗi cho bụi rậm, cho bọng cây và hang đá. Trên
thực tế, vấn đề không phải do những vật ấy. Con chó bị vét đeo,
hút máu. Vấn đề là vét.
Chúng ta, các nhà
sư, cũng giống như con chó rừng ấy. Chúng ta bất măn, không bằng
ḷng v́ mang nặng Tà Kiến. V́ không tu luyện pháp thu thúc lục
căn, chúng ta phiền trách ngoại cảnh làm cho ḿnh đau khổ. Dầu
chúng ta sống ở Wat Pah Pong, ở Mỹ hay ở Anh quốc ta vẫn bất toại
nguyện. Giờ đây đi sống ở Bung Wai (Thiền Viện Quốc Tế) hay ở một
tu viện nào khác, ta vẫn không toại nguyện. Tại sao? Bởi v́ từ bên
trong ta vẫn c̣n ôm ấp Tà Kiến. Chỉ có thế! Đi bất cứ đâu ta vẫn
không bằng ḷng.
Tuy nhiên, cũng
giống như con chó rừng, nếu trị được con vét th́ dầu ở đâu chó
cũng bằng ḷng. Ta cũng vậy, Sư rất thường suy tư và thường dạy
quư vị về điểm nầy bởi v́ nó vô cùng thiết yếu. Nếu chúng ta thấu
rơ chân lư của những cơn buồn vui của ta ắt ta sẽ đạt đến trạng
thái tự tại, bằng ḷng. Dầu trời nóng nực hay lạnh lẽo ta cũng
bằng ḷng, ở chung chỗ đông hay ít người ta cũng bằng ḷng. T́nh
trạng bằng ḷng hay không, không phải tùy thuộc nơi số người nhiều
hay ít cùng ở chung, mà do Chánh Kiến. Đă có Chánh Kiến th́ ở đâu
ta cũng bằng ḷng.
Nhưng phần đông
chúng ta có Tà Kiến. Cũng giống như con gịi! Chỗ ở của con gịi
rất là bẩn thỉu. Thức ăn của gịi thật là dơ dáy ... nhưng đó là
thức ăn và chỗ ở thích hợp với gịi. Nếu quư vị lấy cái que hay
cọng chổi phủi nó ra khỏi đống phẩn, nó sẽ sống chết cố gắng ḅ
trở lại vào đó. Cùng thế ấy, thầy dạy chúng ta phải nhận thức
đúng. Chúng ta phản đối v́ điều ấy làm cho ta cảm nghe không thoải
mái. Chúng ta quày trở lại "đống phẩn", bởi v́ nơi đó chúng ta cảm
nghe thoải mái dễ chịu. Tất cả chúng ta đều là vậy! Nếu không thấy
được hậu quả tai hại của tất cả những quan kiến sai lầm của chúng
ta, ta không thể rời bỏ nó, pháp hành quả thật là khó. Như vậy ta
nên lắng nghe. Pháp hành không có ǵ khác.
Nếu có Chánh Kiến
th́ bất luận đi đâu ta vẫn bằng ḷng. Sư đă có hành, có kinh
nghiệm và thấy rơ như vậy. Giờ đây có rất nhiều vị sư, sa di và
nhiều người cư sĩ đến viếng Sư. Nếu Sư vẫn c̣n chưa thấu rơ, nếu
c̣n giữ Tà Kiến ắt Sư chết ngay bây giờ. Nơi ẩn náu chân chánh của
chư sư, nơi an trú mát mẻ chính là Chánh Kiến. Không nên t́m ở đâu
khác.
*
Vậy, mặc dầu quư
vị có thể cảm nghe không hài ḷng, điều đó không thành vấn đề.
Trạng thái không vừa ḷng vốn không ổn định vững bền. Có phải
trạng thái bất toại nguyện ấy là "chính quư vị", là cái "bản ngă"
của quư vị không? Trong trạng thái ấy có chi thực chất không? Có
thực sự hiện hữu không? Sư không thấy nó thật sự hiện hữu chút
nào. Trạng thái bất toại nguyện chỉ là một nhoáng cảm giác phát
hiện thoáng qua rồi tan biến. Hạnh phúc cũng vậy. Có cái chi là
thực chất trong hạnh phúc không? Nó có thật sự là một thực thể
không? Nó chỉ là một cảm giác bỗng nhiên thoáng qua rồi tan biến.
Đó! Sanh rồi diệt, T́nh thương chỉ một chớp nhoáng trong khoảnh
khắc, rồi biến mất. Thực chất của t́nh thương, sân hận, buồn phiền
ở đâu? Trong thực tế không có thực thể thuần chất trong đó. Nó chỉ
là những cảm giác nhoáng chớp lên trong tâm và tan biến. Lúc nào
nó cũng phỉnh lừa gạt gẫm ta, không có nơi nào t́m thấy cái ǵ bền
vững, chắc chắn, ổn định. Như Đức Phật dạy, khi điều bất hạnh,
trạng thái không toại nguyện, phát sanh, nó tồn tại nhất thời rồi
tan biến. Khi bất hạnh tan biến, hạnh phúc phát sanh, tồn tại một
lúc, rồi hoại diệt. Khi hạnh phúc hoại diệt, bất hạnh phát sanh
trở lại -- măi măi triền miên như vậy.
Cuối cùng chúng ta
có thể nói -- ngoài sự sanh, sự sống và sự chết của Đau Khổ, không
có ǵ hết. Chỉ có bấy nhiêu. Nhưng chúng ta si mê, chạy theo và
măi măi bám níu. Chúng ta không bao giờ thấy sự thật, không bao
giờ nhận thức rằng chỉ có trạng thái biến đổi liên tục nối tiếp.
Nếu thấu rơ như vậy, ta không cần phải suy tư nhiều, nhưng có
nhiều trí tuệ. Nếu không thấu hiểu, ta phải suy tư nhiều hơn là có
trí tuệ -- và chưa chừng không có trí tuệ ǵ hết. Chỉ đến chừng
nào thật sự nhận thức hậu quả tai hại của hành động ḿnh, chúng ta
mới có thể buông bỏ. Cùng thế ấy, chỉ đến chừng nào nhận thức lợi
ích thiết thực của pháp hành, chúng ta mới có thể thực hành, và
bắt đầu gia công làm cho tâm trở nên "tốt".
*
Nếu ta cưa một
khúc gỗ và bỏ xuống sông, và nếu khúc gỗ không ch́m xuống đáy,
hoặc không hư thúi, hoặc bị trôi tấp vào bờ, th́ chắc chắn nó sẽ
trôi luôn ra biển cả. Pháp hành của chúng ta cũng giống vậy. Nếu
quư vị hành đúng theo con đường mà Đức Phật chỉ vạch, theo đúng
con đường quư vị sẽ vuợt khỏi hai điều. Hai điều ǵ? Đó là hai cực
đoan mà Đức Phật dạy là không phải con đường của người hành thiền
chân chánh -- Dể duôi, buông lung trong Dục Lạc và buông lung
trong Đau Khổ. Đó là hai bờ của con sông. Bờ bên nầy là sân hận,
bờ bên kia là t́nh thương. Hoặc nữa, quư vị có thể nói một bờ là
hạnh phúc và bờ bên kia là đau khổ. Khúc gỗ là cái tâm nầy. Trong
khi "chảy trôi theo ḍng nước của con sông", nó sẽ chứng nghiệm
hạnh phúc và đau khổ. Nếu tâm không vướng mắc hay bám níu vào hạnh
phúc và đau khổ, nó sẽ trôi chảy đến tận "biển cả". Quư vị phải
thấy rằng không có ǵ khác hơn là hạnh phúc và đau khổ phát sanh
và tan biến. Nếu không "trôi tấp" vào trong đó ắt quư vị đă ở trên
con đường của người hành thiền chân chánh.
Đó là Giáo Huấn của Đức Phật. Hạnh phúc và đau
khổ, t́nh thương và sân hận, chỉ được thiết lập trong Thiên Nhiên,
thuận chiều theo Định Luật của Thiên Nhiên, vốn bất di bất dịch.
Người có trí tuệ không đi theo nó, không khuyến khích hay khơi
động nó, người ấy không vướng mắc hay bám níu vào nó. Đó là cái
tâm buông bỏ cả hai cực đoan, Lợi Dưỡng trong Dục Lạc và Lợi Dưỡng
trong Đau Khổ. Đó là pháp hành chân chánh. Cũng chỉ như khúc gỗ
suông sẻ chảy trôi thẳng đường ra tận biển cả, cùng thế ấy tâm mà
không dính mắc trong hai cực đoan chắn chắn sẽ đạt đến An Lạc.
Kết luận
... Quư vị có biết
đến đâu nó sẽ chấm dứt không?
Hay là quư vị chỉ tiếp tục măi măi
học như vậy? ... Hoặc nữa, nó phải chấm dứt ở một điểm nào chăng?
... Cũng được, nhưng đó là khảo sát bề ngoài. Không phải nghiên
cứu bên trong, Muốn khảo sát, học hỏi bên trong quư vị phải t́m
hiểu mắt nầy, tai nầy, mũi nầy, lưỡi nầy, thân nầy, và tâm nầy. Đó
mới thật sự là môn học. Học trong sách chỉ là học bề ngoài, thật
sự khó mà đi đến tận cùng, khó hoàn tất viên măn.
Khi mắt thấy h́nh
thể, hiện tượng ǵ xảy ra? Khi tai nghe âm thanh, mũi hửi mùi,
lưỡi nếm vị, điều ǵ phát sanh? Khi thân tiếp chạm với đối tượng
của nó và khi tâm giao tiếp với pháp th́ có phản ứng ǵ? Vẫn c̣n
tham, sân, si nữa chăng? Ta có bị lạc lối trong h́nh thể, âm
thanh, mùi, vị, vật thể và những cảm xúc buồn vui chăng? Đó là học
bên trong. Môn học nầy th́ có điểm chấm dứt.
Nếu học mà không
hành ắt sẽ không gặt hái thành quả ǵ. Cũng như người chăn ḅ.
Sáng sớm dắt ḅ ra đồng ăn cỏ, rồi chiều lùa trở về chuồng --
nhưng người ấy không bao giờ uống sữa ḅ. Học th́ tốt, nhưng chớ
nên để pháp học của ḿnh giống như vậy. Quư vị phải chăn ḅ và
cũng uống sữa ḅ nữa. Phải học, và cũng phải hành để gặt hái thành
quả tốt đẹp.
Đây, để Sư giảng rộng thêm. Cũng như người kia
nuôi gà mà không bao giờ lấy trứng, chỉ hốt phẩn gà. Đó là điều mà
Sư thường nói với những người nuôi gà ở quê nhà. Hăy thận trọng
coi chừng! Chớ nên để ḿnh lọt vào trường hợp tương tợ. Điều nầy
có nghĩa là học kinh điển nhưng không biết phải làm thế nào để
loại trừ ô nhiễm, không biết làm sao "đẩy lui" tham ái, sân hận,
và si mê ra khỏi tâm. Học mà không hành, không có "dứt bỏ", sẽ
không đem lại hậu quả tốt đẹp nào. V́ lẽ ấy Sư ví họ như người
nuôi gà mà không lấy trứng, chỉ hốt phẩn. Giống như vậy.
V́ lẽ ấy Đức Phật
muốn ta học kinh điển rồi từ bỏ những hành động bất thiện bằng
thân, khẩu, ư và phát triển thiện nghiệp qua hành động, lời nói,
và tư tưởng. Giá trị thật sự của nhân loại sẽ trở thành tṛn đủ
xuyên qua thân, khẩu, ư. Nhưng nếu chúng ta chỉ nói giỏi mà không
hành động đúng theo lời nói th́ ắt không viên măn, chưa đủ. Hoặc
nữa, nếu ta có những hành động tốt mà tâm vẫn không tốt th́ cũng
chưa hoàn tất viên măn. Đức Phật dạy nên phát triển thiện pháp
trong cả ba nghiệp: thân, khẩu, ư. Đó là kho tàng quư báu của nhân
loại.
Bát Chánh Đạo của
Đức Phật, Con Đường của pháp hành, có tám chi. Tám chi không phải
là ǵ khác hơn chính bản thân nầy! Hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi,
một lưỡi, và một thân. Đó là Con Đường. Và tâm là người noi theo
Con Đường. Do vậy, cả hai, pháp học và pháp hành, nằm trong thân,
khẩu, ư của chúng ta.
Quư vị có thấy
kinh điển dạy điều ǵ ngoài thân, khẩu, ư chăng? Kinh điển chỉ dạy
bấy nhiêu, không có ǵ khác. Ô nhiễm được sanh ra ngay tại đây.
Nếu quư vị thấu rơ, nó cũng sẽ chấm dứt ngay tại đây. Vậy, phải
thông hiểu rằng cả pháp học lẫn pháp hành đều nằm tại nơi đây. Nếu
chỉ học được chừng đó thôi quư vị có thể hiểu biết tất cả. Cũng
như lời nói của ta: chỉ nói một lời đúng Chân Lư c̣n hơn suốt cả
đời nói sai. Quư vị hiểu chưa? Người có học mà không hành cũng
dường như cái muỗng nằm trong nồi canh. Cả ngày trầm ḿnh trong
canh, nhưng không biết mùi vị của canh. Nếu không thực hành th́
dầu có học cho đến chết đi nữa quư vị cũng sẽ không thông hiểu
Hương vị của Giải thoát.
Chú thích:
[8] Ở đây, danh từ
"Thiên Nhiên" bao hàm các sự vật, vật chất cũng như tinh thần,
không phải chỉ có cây cối, thú vật, v.v...
[9] Danh từ "giới
cấm thủ" được phiên dịch từ Phạn ngữ ślabbata paràmàsa,
thông thường được hiểu là sự bám níu chấp vào nghi thức lễ bái,
tin rằng những nghi thức lễ bái sẽ đưa đến giải thoát. Ngài Ajahn
giảng nó, cùng với hoài nghi, đặc biệt liên quan đến thân kiến.
Theo kinh điển, thân kiến, hoài nghi, và giới cấm thủ là ba thằng
thúc đầu tiên trong mười thằng thúc mà hành giả tận diệt khi bước
vào ḍng suối chảy đến Niết Bàn (Nhập Lưu). Mười thằng thúc
(samyojana) là mười dây trói buộc cột chặt chúng sanh vào ṿng
luân hồi. Đến khi hoàn toàn giác ngộ, vị A La Hán tận diệt tất cả
mười thằng thúc. (Muốn có
thêm chi tiết xin xem Đức Phật và Phật Pháp, tác giả Đại Đức
Nàrada Mahà Thera, chương 38).
[10] Vipassanù --
tức là Vipassanùpakkilesa, Tùy Phiền Năo, một loại ô nhiễm vi tế
phát sanh trong khi hành thiền.
[11] "Năm Hạ" -
Mỗi năm một vị tỳ khưu phải trải qua ba tháng an cư kiết hạ vào
mùa mưa, được xem là một hạ. Tuổi đạo của thầy tỳ khưu được tính
theo số hạ mà vị ấy trải qua.
[12] Đối với người
Thái, cũng như phần lớn các dân tộc Á Đông, cái đầu được xem là
thiêng liêng và vỗ đầu người khác là một cử chỉ lăng mạ. Cũng theo
phong tục, người nam và người nữ không đụng chạm nhau ở chỗ công
cộng, nhất là nơi hành thiền th́ càng phải nên đặc biệt nghiêm
chỉnh.
[13] Quy ước và
Giải Thoát :-- nói cách khác, tục đế và chân đế.
[14] Parami, là
những phẩm hạnh có khả năng đưa ta sang bờ bên kia.
[15] Jàgaro -- Đại
Đức Jàgaro mà Ngài Ajahn Chah lấy làm thí dụ ở đây, là vị Sư người
Úc, Sư Trưởng Wat Pah Nanachat, hôm ấy dẫn một nhóm thiền sinh đến
nghe Pháp.
[16] Dhùtanga --
Tu sĩ du phương thực hành một số trong mười ba pháp hành khổ hạnh
được Đức Phật cho phép, đi đó đây trong rừng (thông thường là đi
bộ) t́m nơi thanh vắng để hành thiền.
-ooOoo-
|