|
|
-ooOoo-
-ooOoo-
Tựa
Chào mừng đến với Giác Niệm Về Hơi
Thở!
Giác niệm về hơi thở là một kỹ thuật quán tưởng
cắm sâu vào hơi thở của chúng ta. Đó
là một phương tiện tinh vi để
thám hiểm đời sống xuyên qua ư thức tế nhị và sự
điều nghiên tích cực về hơi
thở và đời sống. Hơi thở chính là
đời sống; ngừng thở là chết.
Hơi thở thiết yếu cho đời sống, làm
cho êm dịu, tự nhiên, và năng phát
hiện. Hơi thở là bạn đồng hành
luôn luôn ở với chúng ta. Bất cứ nơi nào chúng ta
đi đến, vào mọi thời, hơi thở
hộ tŕ đời sống và cống hiến
cơ hội cho sự phát triển tâm linh. Do sự quán tưởng về hơi thở,
chúng ta phát triển và củng cố các khả năng
tinh thần và đức tánh tâm linh
của chúng ta. Chúng ta học hỏi được sự thư giăn của thân
thể và an tịnh của tâm hồn. Khi tâm thức lắng dịu và trở nên trong
sáng, chúng ta xét nghiệm được cuộc
sống, thân và tâm của ta, hiển lộ ra như thế nào. Chúng ta
khám phá được sự thật căn bản về sự
hiện hữu của nhơn sanh và học hỏi
được nghệ thuật sống đời sống chúng
ta như thế nào cho hoà điệu
với sự thật đó. Và trong suốt chuỗi thời gian, chúng ta cắm
sâu vào hơi thở, được hơi thở nuôi
dưỡng và hộ tŕ, được hơi thở
xoa dịu và làm quân b́nh, cảm ứng với hơi thở ra, hơi thở
vào. Đấy là sự thực tập của
chúng ta.
Giác niệm về Hơi thở là một hệ thống quán tưởng,
hay là huấn luyện tinh thần (citta bhàvanà, tâm quán),
được Đức Phật Thích ca thường thực
tập và đem ra giảng dạy. Đă
hơn 2500 năm, đường lối thực tập nầy
được giữ ǵn và trao truyền lại về sau.
Đường lối ấy là phần thiết yếu
trong đời sống của các Phật tử thuần
thành ở Á châu và khắp nơi khác trên thế giới. Các tôn giáo
khác cũng có đường lối tu tập tương
tự như thế nữa. Thật ra, các h́nh thức của Giác niệm về Hơi
thở đă có trước thời
Đức Phật. Các h́nh thức
đó đă
được Ngài làm hoàn hảo thêm
để bao trùm toàn bộ Giáo pháp
và các khám phá mới của Ngài. Như thế, h́nh thức bao quát của Giác
Niệm về Hơi Thở được Ngài chỉ
dạy mới đưa đến sự thành tựu
tiềm năng cao quí nhứt của nhơn loại
là sự giác ngộ. Ngoài ra, c̣n có các thành quả khác hiến
tặng cho cả nhơn loại, ở mọi giai tầng xă hội và mọi tŕnh
độ phát triển tâm linh, những giá trị
ngắn và dài hạn, những lợi lạc thế tục và siêu thế.
Nơi Tam Tạng Kinh
Điển, hệ Pali, sự thực tập giác niệm về hơi thở được gọi là
Ànàpànasati, có nghĩa là "có giác niệm về hơi thở vào và
hơi thở ra". Toàn bộ hệ thống thực tập
được mô tả trong các bản Kinh Pali và
sau đó được giải thích rộng ra trong
các Chú giải. Cùng với thời gian, cả một công tŕnh văn
chương đồ sộ được phát triển. Từ các nguồn xuất xứ đó, và
nhứt là từ các lời dạy của Đức Phật,
Pháp sư Phật Lệ (Ajahn Buddhadàsa)
đă rút ra phương pháp thực tập
riêng của chính ông. Do kinh nghiệm
đó, Người đă tŕnh bày thành một hệ thống thật rộng răi
để giải thích rơ thế nào và
tại sao phải nên thực tập Giác niệm về Hơi thở. Quyển sách nầy ghi
lại các buổi giảng pháp gần đây nhứt
của Người về sự thực tập quán tưởng.
Các bài giảng pháp
được tuyển chọn ở đây v́ hai lư do. Thứ nhứt, các bài pháp
đó được thuyết giảng trước các người
Tây phương tham dự các khoá hàng tháng tu học tại Suan
Mokkh (Suan Mokkhabalàràma, Khu vườn của Năng
lực Giải thoát, một tu viện Phật giáo ở miền Nam nước Thái). Khi
diễn giảng cho thiền sinh Tây phương, Pháp sư đă dùng cách
nói bộc trực chẳng quanh co. Người chẳng cần
đi sâu vào các
điểm hứng thú văn hoá của truyền
thống Phật giáo Thái lan, Người thích chọn một thái độ khoa học,
hợp lư, và phân tách. Và thay v́ giới hạn sự chỉ dẫn dành
cho các Phật tử, Người nhấn mạnh đến
khía cạnh phổ quát, tự nhiên,
đầy nhơn tính của Ànàpànasati, Giác niệm về hơi thở.
Xa hơn nữa, Người cố gắng đáp ứng các
nhu cầu, khó khăn, câu hỏi, và khả năng
của các thiền sinh Tây phương mới bắt đầu, nhứt là
đối với các thân hữu đến thăm viếng
Suan Mokkh.
Thứ hai, quyển sách nầy nhắm vào các "người mới
bắt đầu đứng đắn" (serious
beginners). Khi nói "người mới bắt
đầu" (beginners)chúng
tôi muốn nói tới những người c̣n chưa
được quen thuộc lắm với sự thực tập nầy cùng lư thuyết của
nó. Vài người chỉ vừa mới bắt đầu,
trong khi các người khác đă có những kinh nghiệm thực tập
nhưng c̣n khiếm khuyết các điều chỉ
dẫn về cách thức làm thế nào
để đẩy xa hơn nữa sự thực tập của họ. Cả hai hạng người đó đều có
thể được lợi lạc nhờ nghe các lời giảng dạy trong sáng liên
quan đến hiện trạng của họ và
mục tiêu tổng quát.
Khi nói "đứng đắn"
(serious), chúng tôi muốn nói tới những người quan
tâm đến vấn đề một cách sâu xa hơn là
sự hiếu kỳ suông. Họ sẽ đọc, đọc đi
đọc lại một cách cẩn thận quyển thủ bản nầy, sẽ suy tư về tài
liệu nầy một cách thích nghi, và sẽ ứng dụng, một cách chân thành
và tận t́nh, các kiến thức vừa thâu thập
được. Mặc dầu có vài người
thích nghĩ rằng chúng ta đâu cần phải
đọc sách về thiền quán, chúng ta chỉ thực tập quán tưởng thôi,
nhưng ta cũng phải nên cẩn thận
để biết rơ những ǵ chúng ta
đang thực hành. Chúng ta phải
bắt đầu với các tài liệu
đầy đủ và rơ ràng,
để có thể thực tập một cách có ư
nghĩa. Nếu chúng ta chẳng được thân cận bên một vị minh sư,
th́ một cuốn sách như quyển thủ bản nầy rất cần thiết vậy. Người
mới bắt đầu cần phải có các tài
liệu vừa giản dị, để có được một h́nh
ảnh rơ ràng về trọn vẹn tiến tŕnh thực tập, vừa phải
đầy đủ chi tiết để biến h́nh
ảnh đó thành sự thật. Quyển
thủ bản nầy dung hoà được hai đ̣i
hỏi đó. Nó cũng đủ để hướng dẫn một
cuộc thực tập đến chỗ thành công, nhưng nó chẳng quá rườm
rà để khiến cho mọi việc trở thành
rắc rối và làm ta bị tràn ngập. Những người
đứng đắn tuy vừa mới bắt đầu sẽ chẳng
gặp khó khăn chi trong việc t́m thấy ở
đấy những ǵ họ
đang cần dùng
đến.
Phần chánh yếu của quyển thủ bản nầy bao gồm
một loạt các bài pháp được thuyết
giảng tại khoá tu học thiền quán vào tháng Chín 1986. Pháp
sư Poh (Đại đức Bodhi Buddhadhammo,
người có sáng kiến mở các khoá thiền) thỉnh cầu Pháp sư Phật Lệ (Buddhadàsa)
đứng ra trực tiếp thuyết giảng. Mỗi
buổi sáng, sau khi điểm tâm xong, các thiền sinh tụ tập tại Khúc
Thạch (Curved Rock), khoảng đất rộng dùng làm giảng trường
lộ thiên của Suan Mokkh, để nghe Pháp
sư Buddhadàsa giảng pháp bằng tiếng Thái,
được thông dịch ra Anh ngữ. (...)
Trong các buổi giảng pháp khác, gần
đây hơn, Pháp sư Buddhadàsa có
thảo luận thêm về các viễn tượng của Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati)
c̣n chưa được đào sâu trong
các buổi pháp thoại trước vào tháng Chín. Các kiến thức mới nầy
được ghi lại trong Phần Phụ lục ở sau
(...). Một bài Tổng kết của dịch giả Anh ngữ tóm tắt bảy
bài pháp của Pháp sư Buddhadàsa được
ghi tiếp theo đó. Và sau cùng, bản Kinh Ànàpànasati,
do chính Đức Phật thuyết giảng bằng
tiếng Pali, được chép lại dưới h́nh thức bản dịch (...)
(bằng Việt ngữ, trích trong Đại Tạng
Việt Nam, Trung Bộ Kinh, kinh số 118, các trang 249 đến 264 --
Người dịch)(...) Chúng tôi hi vọng khi
đọc tụng, các lời Kinh b́nh dị
và trực tiếp của Đức Phật sẽ qui
chiếu tất cả lời pháp thoại trước đây về một tiêu
điểm thật rơ ràng. Tiêu diểm
ấy, dĩ nhiên, phải nhắm vào mục đích
thực sự của đời sống -- Niết-bàn (Nibbàna).
Nếu bạn c̣n chưa chịu ngồi xuống và theo dơi
hơi thở của bạn, quyển sách nầy sẽ chỉ cho bạn thấy v́ sao bạn
phải làm như thế và làm theo cách nào. Tuy nhiên, cho
đến lúc bạn bắt đầu làm thử,
và tiếp tục thử măi luôn, th́ vẫn c̣n khó cho bạn hiểu thật rơ và
thật đầy đủ những ǵ nói trong
quyển sách nầy. Thế cho nên, bạn hăy
đọc suốt qua một lần, hoặc nhiều lần nữa, cốt để nhận ra được đại
ư của việc thực tập. Rồi th́, trong khi bạn thực tập, bạn
hăy đọc đi đọc lại những đoạn có liên
quan mật thiết đến những ǵ
bạn hiện đang làm hoặc sắp làm.
Lời lẽ trong sách chỉ nổi bật lên rơ ràng khi nào
được đem ra ứng dụng, và nhờ
có sự củng cố đó mà chúng mới
hướng dẫn bạn tiến triển một cách an toàn hơn. Bạn cần
đủ trí thông minh để thấu hiểu rơ
ràng về những ǵ bạn cần phải làm và phải làm các
điều đó như thế nào. Trong khi
bạn chú tâm đến mức yêu cầu
gần của buổi thực tập ngày hôm nay, bạn
đừng quên mất mục tiêu xa của
toàn thể con đường tu tập, sự cấu
trúc, phương pháp và mục đích
cứu cánh của nó. Thế là bạn sẽ thực tập với niềm tự tín vào
sự thành công.
Cùng với mục đích
quan trọng là chỉ dạy cách thức thực tập Giác niệm về Hơi
thở (Ànàpànasati), quyển sách nầy c̣n nhắm
đến một mục tiêu khác nữa mà
các độc giả lơ là thường bỏ
qua. Với sự nghiên cứu cẩn thận thường
được nhắc đến trong sách, các bạn sẽ
khám phá ra sách nầy c̣n đề
cập đến các điểm giáo lư căn bản của nền Phật học, được bảo tồn
nguyên vẹn dưới h́nh thức Phật giáo nguyên thủy. Do
đó, nó đă cống hiến một
đại cương về các giáo pháp căn bản. Và
theo cách nầy, sự đào luyện
trí năng của ta c̣n
được hội nhập vào sự tu tập
tâm linh nữa. Bởi v́ có cách nào mà bạn tách rời ra hai việc
đó? Để hiểu được trọn vẹn những ǵ
đang thực tập, th́ ta cần phải
học thuộc kỹ lưỡng về Chánh Pháp (Dhamma) và ngược lại,
muốn thông suốt Chánh pháp, ta cũng phải nhuần nhă trong việc thực
tập. Nơi đây có đủ cả hai (lư thuyết
lẫn thực hành), điều nầy giúp
cho những ai c̣n phân vân chưa biết những ǵ cần học và
phải học bao nhiêu. Bạn chỉ cần thông thuộc tất cả những
điều bàn luận trong sách nầy,
bấy nhiêu đó cũng đủ.
Các lợi lạc do sự thực tập
đúng cách và miên mật liên
quan đến Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati)
có rất nhiều, cả trên phương diện tôn giáo thuần túy lẫn trong
đời sống thế tục hằng ngày.
Mặc dầu Pháp sư Buddhadàsa đă
giảng rộng trong bảy bài pháp, chúng tôi tưởng cũng nên nêu ra một
vài lợi lạc ngay tại buổi đầu. Trước
nhứt, Giác niệm về hơi thở mang lợi ích đến cho sức khoẻ vừa vật
chất vừa tinh thần. Hơi thở dài, sâu và an hoà rất tốt cho
thân thể. Biết thở đúng cách khiến ta
trở nên b́nh thản và giúp ta trừ
được sự căng thẳng, áp huyết cao,
khích động thần kinh và ung
độc đă tàn phá rất nhiều đời
sống hiện nay. Chúng ta có thể học được thế ngồi giản dị, đẹp đẽ,
chẳng c̣n chút nào căng thẳng,
lo âu và bận rộn đến khuấy rối.
Sự an tịnh êm dịu nầy c̣n có thể duy tŕ ngay cả trong các
động tác thường nhựt khác và
giúp ta hoàn tất mọi việc hằng ngày một cách khéo léo và ... duyên
dáng.
Giác niệm về hơi thở c̣n
đưa ta đến gần với thực tế và
thiên nhiên. Chúng ta sống quá nhiều với cái
đầu của chúng ta: tư tưởng, mơ mộng,
kư ức, kế hoạch, lời nói và tất cả những thứ khác nữa. V́
thế, chúng ta c̣n đâu cơ hội để hiểu
biết về tấm thân của chính chúng ta, chẳng hề dùng thời giờ
để t́m hiểu tấm thân ấy (ngoại
trừ khi bị bịnh hoạn dày ṿ hoặc lúc t́nh dục ngây ngất). Với giác
niệm về hơi thở, chúng ta cảm ứng
được với thân tâm ta và bản thể của nó. Chúng ta thấm nhập
sâu xa và vững chắc vào thực tế căn
bản của nhơn sanh, để khôn khéo đương đầu với các cảm thọ, t́nh
cảm, tư tưởng, kư ức và những tâm trạng khác trong nội tâm. Hết
c̣n bị các thứ kinh nghiệm đó thổi
bạt làm chúng ta phải nghiêng ngửa, chúng ta mới dễ chấp
nhận chúng đúng y như chúng đang là
như thế và học được bài học mà
chính các kinh nghiệm đó đang dạy
chúng ta. Chúng ta bắt đầu học hỏi được cái ǵ là cái ǵ,
cái ǵ chân thật, các ǵ giả dối, cái ǵ cần thiết, cái
ǵ tầm thường, thế nào là xung đột,
thế nào là an hoà.
Với Giác niệm về hơi thở, chúng ta học
được lối sống trong hiện tại, và
chỉ có khoảng thời gian nầy chúng ta mới thật sự sống. An trú
trong quá khứ, th́ quá khứ đă
chết mất rồi, hoặc mơ mộng về tương lai, th́ tương lai lại mang
cái chết đến, cả hai thời nầy đều
chẳng phải thật sự là sống cuộc
đời đáng sống của con người. Trong
khi đó, mỗi hơi thở là một sự thật sống
động trong cái ở
đây và bây giờ,
đâu có bờ bến nào giới hạn.
Biết rơ ràng được hơi thở đang thở,
chính là đang sống, sẵn sàng
để tăng trưởng và
để đón nhận bất cứ những ǵ sẽ
tiếp theo sau.
Sau cùng, trong khuôn khổ hạn hẹp của cuộc
đàm luận nầy, Giác niệm về hơi
thở (Ànàpànasati) giúp ta dũa ṃn
được và vứt bỏ
đi sự ích kỷ hiện đang phá hoại đời
sống chúng ta và của cả thế giới nữa. Xă hội và hành tinh
của chúng ta đang bị dày xéo
v́ vắng bóng hoà b́nh. Vấn đề nầy rất
khẩn thiết, khiến cho các chánh trị gia, ngay cả các kỹ nghệ gia
quân sự cũng rêu rao hứa hẹn hoà b́nh. Nhưng c̣n chưa thấy
thực hiện nổi những ǵ để thật sự
khiến nền hoà b́nh chân chính
được nở hoa. Chỉ thấy có những biện pháp hời hợt, phiến diện được
đề ra, trong khi đó nguồn gốc của sự tranh chấp lại nằm bên
trong nội tâm của mọi người, của mỗi người trong chúng ta. Các
cuộc xung đột, tranh biện, chiến đấu,
và cạnh tranh, mọi sự bạo hành và tội phạm, sự bóc lột cùng
sự bất lương, đều khởi lên từ
các nỗ lực đă bắt nguồn nơi
các ư nghĩ ích kỷ của chúng ta. Giác niệm về hơi thở giúp ta nhổ
bật được gốc rễ của cái "Ta" khả ố và
những cái "của Ta" đáng ghét, là
các mầm mống của ḷng ích kỷ đó. Cần
chi hô hào ầm ỉ về hoà b́nh, chúng ta chỉ cần
đến luồng hơi thở nhẹ nhàng
cùng với sự tỉnh giác sáng suốt.
Niềm khát khao hoà b́nh của chúng tôi, hoà b́nh
cho nội tâm cá nhơn cũng như hoà b́nh cho thế giới,
đă
được các quí khách chia xẻ, khi họ
đến viếng thăm Suan Mokkh. Với những ai hiện đang tầm cầu con
đường hoà b́nh của Đức Phật, và
nhận đó là bổn phận và nguồn
hạnh phúc của tất cả mọi người, chúng tôi xin hiến tặng quyển sách
nầy. Chúng tôi hi vọng quyển sách sẽ làm phong phú thêm sự thực
tập Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati) của các bạn
để đời bạn được thăng hoa lên.
Nguyện cầu mọi người chúng ta đều
đạt được mục đích đời sống đầy ư nghĩa của ḿnh.
Tỳ kheo Santikaro
Suan Mokkhabalarama
Tân niên (P.L.) 2531 (1988)
-ooOoo-
Thiện Nhựt xin thưa vài lời ...
Kính thưa Quí vị Đạo hữu,
Trong rừng Giáo lư nhà Phật, t́m
được một bản Kinh chỉ rơ vừa lư thuyết vừa thực hành là
điều rất khó. Kinh Nhập tức Xuất tức
Niệm (Ànapànasati) đă
được Pháp sư Phật Lệ tŕnh bày
lại dưới h́nh thức mươi bài pháp thoại rơ ràng và giản dị, chỉ rơ
con đường tu tập, từng bước một, để
đi đến sự giác ngộ và giải thoát hoàn toàn. Ngay tại
trang b́a, có ghi rơ sách dành cho các Phật tử quyết tâm mới
bắt đầu tu tập (For
serious beginners).
Nếu đă thấy bấy lâu nay cứ
chạy ḷng ṿng đi t́m một pháp
môn thích hợp với ḿnh, th́ tôi thiển nghĩ
đây là một quyển sách, cần
đọc đi đọc lại nhiều lần, và
nhứt là cần được đem ra thực tập
ngay. Nếu có quyết tâm, kết quả sẽ
đến với ta rất rơ rệt và rất
đáng ước mong.
Trân trọng.
Montréal, 16-02-2004.
Thiện Nhựt kính tŕnh.
-ooOoo-
Bài một
Tại sao lại Pháp?
"Tại sao lại Pháp?"
Trước khi trả lời câu hỏi nầy, chúng ta cần t́m
hiểu ư nghĩa của chữ Pháp: Dhamma. Sau
đó, mới bàn
đến các lư do tại sao chúng ta cần
phải học tập về Pháp và thực hành theo Pháp.
Pháp và các bí ẩn của
đời sống.
Lối giải thích dễ hiểu về Pháp (Dhamma)
là: "Bí ẩn của thiên nhiên cần được
hiểu rơ để có thể phát triển
đời sống đến mức lợi lạc cao nhứt."
"Để phát triển đời
sống đến mức cao nhứt" có nghĩa là
đạt tới một giai đoạn của đời sống
được giải thoát khỏi mọi vấn đề (khó khăn) và mọi khổ sở (dukkha).
Đời sống như thế đó đă vượt
thoát khỏi những ǵ được xem như là
"vấn đề (khó khăn)" và "khổ sở"
(dukkha).
Một sự giải thích rơ ràng thêm về danh từ "bí
ẩn" rất quan trọng cho việc thông hiểu
đề tài của chúng ta. Nếu chúng
ta c̣n chưa biết bí ẩn của một sự vật ǵ, th́ chúng ta chẳng thể
nào hành động cho thành công
để đạt được các kết quả cao nhứt và
thâu được lợi lạc tối đa về sự vật đó.
Thí dụ như các tiến bộ về việc thám hiểm ngoại tầng không gian và
các phát triển về năng lực hạch tâm,
cũng như ở các điạ hạt khác, sở dĩ thực hiện được là nhờ sự
thông hiểu về các bí ẩn của các sự vật
đó. Với đời sống, th́ cũng như
vậy. Để có thể đạt được sự phát triển
cao nhứt về đời sống, chúng ta cần phải biết rơ các bí ẩn
của đời sống.
Đời sống, đặc biệt là trong khung cảnh
của Pháp (Dhamma), là một đầu
đề về thiên nhiên (Dhamma jàti). Chữ Pali dhamma
jàti được dịch ra là
thiên nhiên (hay bản thể) (nature )có thể c̣n
chưa đúng hẳn, nhưng nghĩa cũng đă
khá gần. Xin hăy xem đó như có nghĩa
là cái ǵ tự nó hiện hữu ở bên trong nó, tự nó sanh ra nó,
và có những qui luật của riêng nó. Cái nghĩa thiên nhiên
đó chẳng hề chống đối với con người,
khác với sự suy tư của người Tây phương thường nghĩ, mà
trái lại nó bao gồm con người, và tất cả những kinh nghiệm của con
người, vào bên trong nó. Vậy, chúng ta cần phải hiểu bí ẩn của
đời sống, th́ mới có thể hiểu
được Pháp.
Pháp: Bốn phương diện.
Pháp của đời sống
có bốn nghĩa:
1.- thiên nhiên,
2.- qui luật của thiên nhiên,
3.- bổn phận cần phải làm, chiếu theo qui luật
đó của thiên nhiên,
4.- các thành quả hoặc lợi lạc do sự thi hành bổn phận
đó mang lại.
Xin hăy luôn luôn ghi nhớ bốn nghĩa có liên hệ
hỗ tương với nhau đó.
Các bạn hăy cứu xét
đến Sư Thật ở bên trong bạn,
nơi thân tâm nầy mà bạn thường tưởng như là chính bạn. Bên trong
mỗi chúng ta có nhiều thiên nhiên kết hợp nhau thành ra tấm thân,
trở nên một chúng sanh. Kế đó, có
những qui luật thiên nhiên
đang kiểm soắt các thiên nhiên
đó. Rồi lại có bổn phận liên quan
đến các qui luật thiên nhiên
cần phải được các thiên nhiên
đó thi hành
đứng đắn cho chính các thiên
nhiên ấy. Và sau cùng là các kết quả của việc thi hành bổn phận
đó. Nếu bổn phận được thi hành
đúng đắn, th́ kết quả sẽ là an
lạc, tĩnh lặng và thoải mái. Tuy nhiên, nếu bổn phận
được thi hành chẳng
đúng đắn, th́ kết quả sẽ là
khổ sở (dukkha), bất toại nguyện, thống khổ,
đau đớn, bất măn. Ngay cả ở
giai đoạn sơ khởi, xin các bạn hăy
quán sát thật kỹ lưỡng và thấy thật rơ ràng nơi mỗi chúng ta
đều có đủ bốn phương diện của Pháp
(Dhamma) hay thiên nhiên.
Khi chúng ta đă
cứu xét kỹ bốn nghĩa đó của thiên
nhiên, chúng ta sẽ thấy ra đời sống
chỉ được tạo thành bởi bốn phương diện
đó của thiên nhiên. Tuy vậy,
giờ đây chúng ta c̣n phải hiểu
rơ bốn phương diện ấy cho thật đúng
đắn và đầy đủ. Chúng ta c̣n
chưa đi sâu vào bí ẩn của cái
mà ta gọi là đời sống. Chúng ta c̣n
chưa nắm vững được bí ẩn của Pháp (Dhamma),
do vậy mà chúng ta chưa đủ khả năng
để thực tập theo một đường lối mà ta có thể thâu hoạch
được lợi lạc trọn vẹn từ nơi đời sống.
Chúng ta hăy dùng nhiều thời giờ hơn nữa
để nghiên cứu thêm về các danh
từ "Pháp" (Dhamma) và "Bí ẩn của
đời sống" hầu có thể rút tiả được lợi
lạc nơi chúng.
Phát triển
đời sống vượt khỏi sự
khổ (Dukkha).
Chúng ta cũng cần xét kỹ
đến từ ngữ "phát triển đời sống".
Chúng ta vẫn chưa biết được bí ẩn của sự việc nầy. Khi nói phát
triển đời sống, chúng ta chưa có một sự hiểu biết rơ ràng
về cái điều chúng ta đang muốn nói
đến và c̣n mờ mịt về tầm mức mà
đời sống có thể phát triển được.
Chúng ta chưa nhận thức được các lợi lạc tối cao mà nhơn
loại có thể vươn lên tới, và v́ thế mà chúng ta c̣n chưa có
đủ sự quan tâm cần thiết đến các bí
ẩn của đời sống khả dĩ giúp ta đạt đến các mức cao nhứt. Bạn cần nên
hiểu rơ đời sống có thể phát triển xa
đến tận đâu, tới các cao độ nào, và phải quan tâm
đặc biệt về sự phát triển đó.
Ngay tại giai đoạn
sơ khởi, chúng ta chỉ cần nắm vững nguyên tắc căn
bản nầy: "phát triển đời sống" có nghĩa là "khiến cho
đời sống tiến triển đến một giai tầng
cao nhứt", tức là, vượt qua khỏi tất cả mọi vấn
đề (khó khăn) và sự khổ sở (dukkha),
vượt khỏi các ư nghĩa chính yếu và tế nhị mà hai chữ ‘vấn
đề" và ‘khổ sở" có thể có
được. Với những ai, từ trước đến giờ,
c̣n chưa được nghe đến chữ
dukkha, khổ sở, chúng tôi xin cố dịch gượng là "đau
khổ, bất toại nguyện, tranh chấp, xao động -- tất cả những ǵ
làm xáo trộn đời sống". Khổ sở (dukkha)
là những ǵ mà chúng ta luôn luôn chạy trốn
để khỏi gặp. Nó là
điều ǵ
đang khuấy động sự tĩnh lặng và
thoải mái của đời sống. Nó cũng là
bất cứ điều ǵ cản trở sự toàn
thiện của tâm linh. Khi được phát
triển vượt khỏi mọi khổ sở (dukkha),
đời sống sẽ đạt đến giai tầng cao
nhứt có thể có được.
Vài người c̣n chưa hiểu biết về các vấn
đề (khó khăn) của chính họ. Họ chẳng
hiểu được thế nào là khổ sở (dukkha), theo nghĩa
tổng quát, hoặc chỉ liên quan đến đời
sống riêng của họ. Họ nh́n vào chính họ và thốt lên: "Ồ!
Tôi chẳng có vấn đề (khó khăn) nào
cả, mọi việc đều yên ổn cả."
Họ chịu coi mọi nổi khó khăn và
lo lắng của họ như thông thường cả. Chúng ta có giống như vậy
không? Ta cần phải có một cái nh́n
đứng đắn, nh́n thật kỹ càng trong chi tiết vào
đời sống của ta để xem thật ra chúng
có điều ǵ đáng để gọi là
một "vấn đề (khó khăn)" chăng. Có khổ
sở (dukkha) chăng? Có
điều ǵ chẳng được như ư chăng,
hoặc đang làm cho đời ta bị
xáo trộn? Những câu hỏi như thế rất cần thiết khi các bạn đến
viếng Suan Mokkh nầy. Nếu bạn c̣n chưa nh́n thẳng vào bên
trong bạn, nếu bạn c̣n chưa lưu ư đến
vấn đề (khó khăn) nào, nếu bạn cảm thấy chẳng có khổ sở (dukkha)
nào cả, th́ bạn c̣n chưa biết đúng
bạn đang làm ǵ ở đây hoặc bạn
chưa rơ được lư do tại sao
phải học tập về Pháp (Dhamma). Xin tha thiết mời bạn
hăy nh́n cho rơ, cho kỹ về các sự vật
đó được gọi là ‘khổ sở" (dukkha), là "vấn
đề (khó khăn)", trước khi bạn tiếp
tục tiến xa hơn nữa.
Khi nói phát triển
đời sống, ta có thể phân biệt bốn phương diện. Phương diện thứ
nhứt là ngăn chặn chẳng cho
các sự vật gây nguy hiểm đến đời sống, được khởi sanh. Thứ hai là
gạt bỏ và phá hủy các sự vật nguy hại
đă sanh ra. Thứ ba là tạo dựng các sự vật hữu dụng và có
ích lợi cho đời sống. Thứ tư là
duy tŕ và tăng trưởng các sự vật ích
lợi đó. Tính chung lại, ta có bốn phương diện phát triển đời sống:
ngăn chặn các nguy cơ mới, diệt trừ các nguy cơ cũ, tạo thêm
các sự vật đáng mong muốn, giữ ǵn
và gia tăng các sự vật hữu ích. Bốn
điểm đó lập thành điều mà
chúng ta gọi là "phát triển đời sống".
Phát triển đời sống là bổn phận của chúng ta, chúng ta phải
nên nhận định rơ
đó là bổn phận của chúng ta,
nếu muốn cho sự phát triển được thực
hiện.
Để làm tṛn bổn phận nói trên, chúng ta
cần phải có sẵn trong tay bốn dụng cụ quan trọng, gọi là bốn Pháp
khí. Bốn khí cụ về Pháp (Dhamma)
đó là: (1) Sati, Giác niệm,
tức là sự tỉnh thức, chánh niệm; (2) Sampajanna, Trí phân biện,
quán thông, tức là sự thông hiểu thấu suốt; (3) Panna, Bát
nhă, tức là trí huệ; (4) Samàdhi,
Định lực, tức là tâm ư tập
trung lại. Có sẵn đủ bốn Pháp khí đó
sẽ giúp ta phát triển được đời sống.
Sự thực tập Vipassanà, Quán chiếu Minh sát,
tức là sự phát triển tâm linh, nhắm vào việc vun bồi và huấn
luyện tâm thức, khiến cho bốn Pháp khí
đó được sung măn hầu giúp ta
phát triển đời sống. Ta nên
quan tâm nhiều đến việc tu tập phát
triển tâm linh về bốn Pháp khí ấy.
Thứ giác niệm về hơi thở (Ànàpànasati)
mà ta cần đến.
Có rất nhiều đường
lối, hệ thống, để đào luyện tâm linh, thường cùng
được gọi là Vipassanà, Quán
chiếu Minh sát. Có rất nhiều hệ thống và kỹ thuật khác nhau
được dùng
để phát triển tâm linh. Nhưng trong
số tất cả các kỹ thuật mà chúng
được biết đến, kỹ thuật tốt nhứt được
gọi là Ànàpànasati bhàvanà, Quán tưởng Giác niệm về Hơi
thở, sự tập luyên chánh niệm về hơi thở ra, hơi thở vào.
Đấy là sự thực tập mà chúng ta
sẽ bàn luận thật chi tiết trong các bài thuyết giảng nầy.
Ư nghĩa đứng đắn và
đầy đủ của phép Quán tưởng
Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati bhàvanà) là nắm lấy
một sự thật, hay là thực tế về bản thể thiên nhiên,
để quán sát, suy tầm và soi
chiếu nó trong nội tâm cùng với mỗi hơi thở vào và mỗi hơi thở ra.
Như thế, giác niệm về hơi thở giúp ta suy nghiệm về bất cứ sự thật
thiên nhiên quan trọng nào trong lúc ta
đang thở vào và thở ra.
Việc nghiên cứu như thế rất là quan trọng và có
một giá trị thật to tát. Nếu ta mong muốn biết rơ một sự thật về
điều ǵ, ta phải nắm lấy sự
thật của điều đó để suy nghiệm, quán
sát, phân tách và nghiên cứu với nhiệt tâm mỗi khi ta
đang thở vào và thở ra. Xin
cho phép tôi nhắc lại, đối tượng (của
việc quán sát) phải được tác động đến một cách thật liên
tục, bền bỉ trong nội tâm. Ngay đây,
"liên tục" có nghĩa là "với mọi hơi thở vào và mọi hơi thở
ra". Khi thở vào, biết rơ đối tượng
đó. Khi thở ra, biết rơ đối
tượng đó. Khi thở vào, hiểu rơ
đối tượng đó. Khi thở ra, hiểu rơ
đối tượng đó. Điều nầy thật hết sức
cần thiết và cũng hữu ích vô cùng,
để phát triển đầy đủ mọi kiến thức mà
ta cần phải hiểu rơ. Việc nghiên cứu như thế sẽ mang
đến một sự chuyển hoá nơi tâm trí,
tức là vào ngay bên trong của
đời sống.
Thật ra, ư nghĩa của Giác niệm về Hơi thở
(Anàpànasati) rất rộng răi và tổng quát. Giác niệm
đó có nghĩa là "chánh niệm
chiếu soi vào bất cứ điều ǵ
ngay trong lúc thở vào thở ra". Bạn hăy tưởng tượng rằng, trong
khi thở vào thở ra, bạn đang nghĩ đến
gia đ́nh của bạn nơi hải ngoại,
đến mẹ của bạn, đến vợ, chồng, con
cái. Điều ấy cũng gọi là Giác niệm về hơi thở (Ànàpànasati).
Nhưng đó chẳng phải là
điều mà chúng ta cần làm ở
đây. Điều mà chúng tôi
đ̣i hỏi ở bạn là phải niệm
đến Pháp (Dhamma), tức
là, những sự thật thiên nhiên có thể giải thoát tâm trí ra khỏi sự
đau đớn của khổ sở (dukkha).
Bạn hăy nắm bắt các sự thật đó để tác
động đến tâm trí, tác động một cách hữu hiệu và
đầy đủ để có thể vứt bỏ được mọi "vấn
đề (khó khăn)", và loại trừ sự khổ sở (dukkha). Nói
cách khác, bạn hăy thâu nhận bốn Pháp khí (dụng cụ tinh thần) mà
chúng tôi vừa nói qua. Đấy mới thật là
Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati) hữu dụng bực nhứt.
Bốn
điều mà
chúng ta cần suy nghiệm.
Giờ đây, đến lượt
câu hỏi: "Các điều nào thích nghi,
đứng đắn và cần thiết
để được nắm lấy như các đối tượng của
sự suy nghiệm mỗi khi ta thở vào, thở ra?" Câu trả lời là:
các bí ẩn của thân (kàya), các bí ẩn của cảm thọ
(vedanà), các bí ẩn của tâm (citta) và
các bí ẩn của Pháp (Dhamma). Các bí ẩn của bốn
điều đó: thân, thọ, tâm,
pháp, là những ǵ mà ta cần đem vào
trong tâm trí để nghiên cứu
tại đấy.
Bốn điều đó khá
quan trọng, tưởng bạn nên ghi nhớ
đến tên của chúng bằng danh từ
Pali. Để tiện thấu hiểu rơ
ràng và tham chiếu dễ dàng sau nầy, bạn nên nhớ bốn danh từ Pali
nầy: kàya, vedanà, citta, dhamma. Chớ nên quên
đó là bốn
đề tài vô cùng quan trọng. Ta
nên xử dụng đến chúng nhiều hơn bất
cứ đối tượng nào để huấn luyện
và phát triển tâm trí, bởi v́ bốn
điều đó đă có sẵn nơi chúng ta,
và là căn nguyên của biết bao
nhiêu "vấn đề (khó khăn)" trong đời
ta. Bởi v́ chúng ta c̣n chưa hiểu rơ
được chúng, và bởi v́ chúng ta
chẳng đủ khả năng để điều chỉnh chúng,
nên chúng mới trở thành những sự việc
đưa ta đến đau khổ. V́ lẽ
đó, thật là quan trọng tuyệt
đối để phân biệt rơ ràng bốn
điều đó: thân, cảm giác, tâm và
các pháp(= sự vật).
Giai
đoạn I: Thân thể và
thân hơi.
Giờ đây, ta hăy
cứu xét bốn điều trên
đây riêng rẻ nhau ra, bắt
đầu với Kàya, Thân. Chữ
Pali kàya có nghĩa là "nhóm" và có thể
được áp dụng vào bất cứ nhóm,
mớ, hay tập hợp nào gồm nhiều sự vật. Trong trường hợp nầy, chữ
kàya có nghĩa đặc biệt là
một nhóm sự vật được kết hợp với nhau
thành nột tấm thân vật chất, thân thể. Tiếng Anh body,
thân, cũng có nghĩa là một nhóm. Vậy ta nên thận trọng về ư
nghĩa mà chữ thân, chữ nhóm, có thể gợi lên.
Bạn nên nh́n kỹ vào chính bạn
để thấy rơ các thân
đó được lập thành như thế nào.
Có những cơ quan nào ở đó và
có cả thảy được bao nhiêu?
Thuộc loại yếu tố nào? Bộ phận nào của cơ quan, thành phần nào
đă kết hợp với nhau trong thân
thể nầy? Sâu xa hơn nữa, có một thành phần rất quan trọng
đă nuôi dưỡng các phần c̣n lại
của thân thể nầy, đó là hơi
thở. Hơi thở cũng được gọi là
kàya, tức là thân, thân hơi, ở ngay trong toàn thể
các yếu tố khác. Ta sẽ nghiên cứu tấm thân thể xương thịt
đó đă an lập như thế nào và
mối tương quan giữa thân thể với hơi thở.
Cái thân hơi rất quan trọng, bởi v́ ta thấy
rằng nó đă duy tŕ và kéo dài
đời sống nơi các phần c̣n lại
của thân. Tấm thân tổng quát, tức là tấm thân thể xương thịt nầy,
thuộc về những sự vật mà ta chẳng thể trực tiếp
điều chỉnh được. Sự chỉnh đốn đó nằm
ngoài khả năng của ta. Tuy nhiên,
có một đường lối để kiểm soát thân
thể đó, làm chủ được nó, một
cách gián tiếp, nhờ xử dụng đến hơi thở. Nếu ta tác động bằng cách
nào đó đến một thân nầy (thân
hơi), th́ sẽ có một ảnh hưởng nào
đó đến với một thân kia (thân thể). V́
lẽ đó ta mới dùng hơi thở làm
một dụng cụ để huấn luyện. Hễ canh
chừng hơi thở đến một mức độ nào th́ ta có thể
điều chỉnh tấm thân thể xác nầy được
đến mức độ đó. Điểm nầy sẽ được bạn nhận thấy thật rơ ràng,
khi bạn đă thực tập
đến một giai đoạn đặc biệt của Giác
niệm về Hơi thở (Ànàpànasati).
Trong các bước của giai
đoạn I, những bước
đầu có liên quan
đến thân (kàya),
ta nghiên cứu hơi thở theo một cách
đặc biệt. Ta ghi nhận mỗi loại hơi thở đến và
đi, và h́nh thức của mỗi hơi
thở ra sao. Hơi thở dài, hơi thở ngắn, hơi thở an tịnh, hơi thở ồn
ào, hơi thở mau, hơi thở chậm: ta phải ghi nhận và biết rơ về
chúng. Với tất cả các loại hơi thở khởi lên, ta phải biết rơ bản
thể của mỗi thứ, đặc tánh và
công năng của chúng.
Hăy quan sát kỹ các loại hơi thở
đă có ảnh hưởng nào
đến tâm thân thể chất nầy. Hơi thở
ảnh hưởng to tát đến phần c̣n lại của tâm thân thể chất, và
ảnh hưởng đó cần phải được thấy ra
cho thật rơ ràng. Quán sát cả hai mặt của mối tương quan ấy
cho đến khi nào thấy
được chúng liên hệ hỗ tương
với nhau và chẳng thể tách rời nhau ra. Thấy rơ rằng cái thân hơi
nầy gây ảnh hưởng và "pha chế" (chuyển biến)
được cái thân thể kia. Đấy là
bước thứ nhứt. Hăy đặc biệt
nghiên cứu hơi thở. Hăy biết rơ các
đặc tánh của tất cả các loại hơi thở.
Rồi thấu hiểu rằng hơi thở liên quan mật thiết với tấm thân
thể chất nữa. Nhờ đường lối nầy, ta
có thể điều chỉnh thân thể được bằng cách điều chỉnh hơi thở.
Ư nghĩa của các bước
đầu trong việc thực tập nầy là
hiểu biết được các bí ẩn của
kàya, của thân. Ta biết rằng thân hơi, tức là sự hô
hấp bằng hơi thở, là một tác viên gây ảnh hưởng
đến tấm thân thể chất. Điều bí ẩn
quan trọng nầy có thể được dùng
để mở khoá các bí ẩn khác trong cơ
thể ta, thí dụ như sự kiện dùng hơi thở
để làm chủ
được thân thể. Chẳng ai ngồi đó mà
có thể thư giăn trực tiếp được tấm
thân thể chất nầy, nhưng ta đă khám phá ra
được rằng, ta có thể làm thư
giăn tấm thân thể chất nầy bằng cách làm cho hơi thở trở nên êm
dịu. Nếu hơi thở êm dịu th́ thân thể cũng êm dịu theo.
Đó là cách ta dùng
để kiểm soát gián tiếp tấm thân nầy.
Về sau. ta c̣n biết được thêm,
nỗi mừng và niềm vui với tất cả các lợi lạc có giá trị khác cùng
đi theo với sự lắng dịu hơi thở và
sự an tịnh thân tâm.
Giai
đoạn II: Cảm thọ là
chủ nhơn của ta
Sau khi đă
hiểu biết rơ các bí ẩn của Kàya, Thân, ta quay sang các bí
ẩn về Vedanà, Cảm thọ. Các cảm thọ (Vedanà) có một năng
lực rất mănh liệt để ảnh hưởng
đến con người và các sanh vật khác. Lời tôi nói có thể làm
bạn ngạc nhiên, nhưng toàn thể thế gian, người thú, và các loại
sanh vật khác, đều tùy thuộc
vào các cảm thọ (vedanà). Họ
đều sống dưới sự ngự trị của các cảm thọ. Điều nầy có vẻ buồn cười
và khó tin, nhưng xin bạn hăy quán sát kỹ lấy mà xem.
Đây là một sự kiện thực tế:
chúng ta, và cả muôn loài, đều bị bó
buộc phải hành động theo lịnh
của các cảm thọ. Khi có lạc thọ (sukha vedanà)
(cảm giác sướng), chúng ta cố t́m cách có thêm lạc thọ
nữa. Các lạc thọ thường đẩy tâm trí
theo một hướng nào đó và
gây ảnh hưởng đến một loại hành
động nào
đó. Khổ thọ (dukkha
vedanà) (cảm giác đau khổ, chẳng
vừa ư) ảnh hưởng đến tâm trí và
đời sống của ta, theo một chiều hướng
ngược lại, nhưng vẫn dẫn dắt ta đến các phản ứng quen thuộc. Tâm
trí phấn đấu chống lại chúng và khiến chúng trở thành các "vấn
đề (khó khăn)" để đưa đến sự khổ sở (dukkha).
Các cảm thọ có ảnh hưởng rất lớn mạnh
đối với các hành động của
chúng ta. Toàn thể thế giới
đặt dưới quyền chỉ huy của các cảm thọ, mặc dầu cũng có những yếu
tố khác xen vào. Thí dụ, như sự khát ái (tanha)
(ham muốn quá mức) có thể kiểm soát tâm trí, nhưng chính sự khát
ái cũng chịu ảnh hưởng của các cảm thọ. V́ thế,
đă biết rơ các cảm thọ có ảnh
hưởng mănh liệt đến tâm trí, ta cần
phải nên thấu hiểu các bí ẩn của chúng.
Tôi sắp nói đến
một điều mà có lẽ bạn sẽ bật cười, nếu bạn muốn. "Nếu ta
làm chủ nổi các cảm thọ (vedanà), ta sẽ nắm lấy
được chủ quyền trên toàn thế
giới." Ta sẽ đủ sức để kiểm soát toàn
thế giới khi ta có thể kiểm soát được
các cảm thọ như chúng ta thường đ̣i hỏi. Rồi ta sẽ canh
chừng cả thế giới nầy như hiện nó
đang ở vào t́nh trạng cần được
kiểm soát thật cấp bách. Nay, v́ có chẳng ai lưu tâm
đến việc chế ngự các cảm thọ, cho nên
thế giới mới vượt ra ngoài sự kiểm soát
đứng đắn. Bạn c̣n chưa thấy
các cuộc khủng hoảng, các vấn nạn khởi lên luôn luôn ư? Chiến
tranh, nạn đói, tham nhũng, ô nhiễm
môi trường, các sự việc nầy đều là những hành vi bắt nguồn
từ sự thất bại trong việc kiểm soát các cảm thọ của chúng ta ngay
tự buổi đầu. Nếu ta kiểm soát được
các cảm thọ, ta sẽ kiểm soát được toàn thể thế giới.
Đấy là
điều mà bạn cần phải nên cứu
xét đến.
Nếu ta biết nói
đúng theo các lời của Đức Phật, ta sẽ nói rằng nguyên nhân
của tất cả mọi việc trên thế giới đều
đặt tâm điểm nơi các cảm thọ. Hằng hà sa số hành vi
đă xảy ra trên thế giới cũng
bởi v́ các cảm thọ đă thúc
đẩy chúng ta đi đến sự ham muốn, và
rồi lại hành động theo đúng các sự
ham muốn đó. Ngay cả các sự tin tưởng như đầu thai, tái sanh đều
chịu ảnh hưởng của các cảm thọ. Nếu ta đă tin tưởng, ta sẽ
ngao du khắp cơi Luân hồi, theo ṿng lẩn quẩn của sanh và tử, của
thiên đường và
điạ ngục. Mọi việc đều bắt nguồn từ
các cảm thọ. Kiểm soát được cảm thọ là kiểm soát
được nguồn gốc, căn nguyên,
sanh quán của muôn việc. Đó cho thấy
sự cần thiết phải thông hiểu các cảm thọ một cách đứng đắn và
tổng hợp. Và nhờ đó mà ta sẽ
có khả năng kiểm soát nổi các cảm thọ
để rồi các bí ẩn của chúng chẳng thể nào lừa gạt
được ta phải có các hành
động điên rồ nữa trong tương
lai.
Có ba điểm chánh
cần nhận thức về các cảm thọ (vedanà). Thứ nhứt,
thông hiểu chính các cảm thọ, sự vật nào
đă làm khởi sanh các cảm thọ
nơi tâm, và làm tâm bị giao động.
Thứ hai, hiểu rơ bằng cách nào các cảm thọ
đă ảnh hưởng
đến tâm (citta).
Cảm thọ đă khơi dậy các tư
tưởng, kư ức, lời nói và hành động.
Phải nên biết rơ các chuyển biến
đó của tâm. Thứ ba,
khám phá ra rằng ta có thể kiểm soát tâm tư bằng cách kiểm soát
các cảm thọ, cũng giống như cách tấm thân thể chất nầy chịu ảnh
hưởng của việc điều hoà hơi
thở vậy. Rồi ta mới có đủ khả năng làm
chủ tâm ta, bằng cách làm chủ được,
một cách đúng đắn, các cảm thọ đang gây ảnh hưởng đến tâm tư. Bí
ẩn của các cảm thọ chính là ba
điểm chánh yếu nầy:
1.- Hiểu rơ chính các cảm thọ.
2.- Biết các điều gây ảnh hưởng đến
các cảm thọ.
3.- Rồi, phải biết cách kiểm soát các điều đă gây ảnh hưởng
đến các cảm thọ; cách nầy cũng giống
như cách kiểm soát chính các cảm thọ.
V́ hai giai
đoạn I và II vừa qua của sự thực tập
đều tuân theo một nguyên tắc
chung, nên sự so sánh giữa đôi bên
sẽ có ích lợi thêm. Trong giai đoạn
I, liên quan đến
thân, ta thấy được sự việc ǵ
đă gây ảnh hưởng
đến cho tấm thân thể chất, và
ta nghiên cứu sự việc đó rất kỹ lưởng
từng chi tiết. Ta thấy rơ sự việc ấy
đă gây ảnh hưởng
đến thân thể; và do
điều chỉnh sự việc ấy mà ta có
thể kiểm soát được tấm thân thể chất
nầy. Đó là đường lối ấy (điều
hoà hơi thở) mà ta noi theo để
khiến cho thân thể được tĩnh lặng và an hoà.
Đối với tâm tư, sự việc gây ảnh hưởng
đến các tâm trạng chính là các cảm thọ. Do kiểm soát
được các cảm thọ để khiến chúng,
chẳng khuấy động được đến các tâm trạng, mà trái lại, gây
ảnh hưởng tốt đến tâm tư, ta mới có
thể khiến cho tâm trí ta trở nên an tịnh. Thế nên, giai
đoạn I liên quan
đến Kàya,
đến thân thể, và giai
đoạn II liên quan
đến Vedanà,
đến cảm thọ, cả hai đều cùng
tuân theo chung một nguyên tắc và song hành với nhau trong phương
pháp thực tập.
Giai
đoạn III: cái tâm tế
nhị.
Trước tiên, ta thực tập
để biết các bí ẩn của Thân (Kàya).
Kế đó, ta thực tập để biết các bí ẩn
của Cảm thọ (Vedanà). Sau khi
đă thực tập hai giai
đoạn I và II xong, ta sẽ thực
tập để biết rơ các bí ẩn của
Tâm (Citta). Tâm tư là vị giám
đốc và bực lănh tụ của đời
sống. Tâm tư hướng dẫn, c̣n thân thể chỉ giản dị là một
dụng cụ đang bị hướng dẫn. Nếu muốn
đời sống được hướng dẫn theo con đường đúng đắn, ta cần phải thông
hiểu rơ ràng và chính xác về tâm (citta) cho
đến mức mà ta có
đủ khả năng để kiểm soát được tâm.
Điều nầy đ̣i hỏi một sự nghiên cứu
đặc biệt, bởi v́ các sự việc
mà ta gọi là tâm trí đó rất là
tế nhị, phức tạp, và sâu xa. Ta đâu
có thể nh́n tâm bằng mắt thịt, ta cần có một cái ǵ
đặc biệt để "thấy" được tâm. Với giác
niệm được huấn luyện tốt, việc nghiên cứu
đặc biệt về tâm có thể thực hiện được,
nhưng đ̣i hỏi nơi ta một sự cố gắng vượt bực. Xin bạn chớ
vội ngă ḷng mà bỏ dở. Mọi người trong chúng ta, ai cũng
đủ khả năng để học hỏi, nghiên
cứu về tâm, hầu thông hiểu các bí ẩn của nó.
Chẳng thể nào biết trực tiếp
được tâm (citta). Ta
chẳng thể sờ, chẳng thể xúc chạm trực tiếp
đến nó. Tuy nhiên, cũng có thể
biết được tâm, qua các tư tưởng. Nếu
ta biết được các tư tưởng là như thế nào, ta cũng sẽ biết
được tâm là như thế nào. Trên
điạ hạt vật chất, để tiện so sánh, ta
chẳng thể nào biết trực tiếp thế nào là
điện khí, ta chỉ biết điện khí qua
các đặc tánh của nó như ḍng
điện, điện thế, điện lực, v.v. Về tâm, th́ cũng như vậy. Ta
chẳng thể thể nghiệm trực tiếp về tâm, nhưng ta có thể thể nghiệm
về các đặc tánh của tâm, các loại tư
tưởng khác nhau. Mỗi ngày, có bao nhiêu loại tư tưởng khởi
lên, có bao nhiêu tŕnh độ tư tưởng
diễn ra? Bạn hăy quan sát các loại tư tưởng
đó. Đó là cách mà ta t́m hiểu
trước nhứt về tâm.
Ta khởi đầu nghiên
cứu về tâm bằng cách quan sát các loại tư tưởng
đang diễn ra trong tâm. Tư tưởng đứng
đắn của tâm diễn ra sao, c̣n các tư tưởng chẳng thích
đáng hiện ra cách nào? Các tư
tưởng đó có bị cấu nhiễm hay chẳng bị
cấu nhiễm? Tâm đang nghĩ theo chiều hướng đứng đắn hay bất chánh,
thiện lành hay dữ ác? Hăy quán sát cho
đến khi nào t́m biết
được rơ tâm qua các loại tư
tưởng mà tâm có thể tư duy được. Thế
thôi! Bạn chỉ biết sự thật đó đến chừng ấy, rằng bản thể (dhamma
jàti) của tâm (citta) là như thế.
Đến giai đoạn nầy, nhờ sự tập luyện
về thân, kàya, và về cảm thọ, vedanà, (gây
ảnh hưởng đến tâm), ta đủ khả năng để
hướng tâm theo điều ta mong muốn. Ta có thể khiến tâm suy tư theo
nhiều cách, hoặc dừng yên lại. Ta có thể khiến tâm trở nên
măn nguyện, hoặc bất măn nữa, nếu ta muốn. Tâm có thể thể nghiệm
các giai tầng của nỗi mừng và niềm vui. Tâm có thể an trụ, lắng
yên, và định tĩnh theo nhiều cách và
nhiều tŕnh độ. Cuối cùng, tâm
có thể được giải thoát. Ta khiến cho
tâm buông bỏ những sự việc mà tâm
đă mến yêu, oán ghét và bấu
níu vào. Tâm được giải thoát khỏi tất
cả các sự việc đó. Đấy là bài học về các bí ẩn của tâm mà
ta cần phải thực tập trong giai
đoạn III nầy của việc Quán tưởng Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati
bhàvanà).
Bạn hăy học biết rơ tất cả các trạng thái của
tâm. Bạn nên có đủ khả năng để làm
cho tâm trở nên thỏa thích và bằng ḷng. Rồi bạn hăy buộc tâm dừng
lại và trụ yên đó. Sau hết, bạn hăy
thúc dục tâm buông bỏ hết mọi sự ràng buộc, tríu mến. Hăy ép buộc
tâm phải buông bỏ. Tâm buông bỏ các sự việc
đă ràng buộc tâm, và các sự
việc đă ràng buộc cũng buông
bỏ tâm ra. Đó là những ǵ cần
phải làm để trở nên thiện xảo,
lăo luyện về đề tài tâm,
nơi bài học thứ ba của Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati).
Giai
đoạn IV: Thành
tựu Pháp tối cao (dhamma).
Sau khi đă
học các bí ẩn của thân, cảm thọ, và tâm, ta
đến giai
đoạn thứ tư bàn về Pháp (Dhamma).
Như đă có nói trước
đây, Pháp, Dhamma, là
Thiên nhiên trong mọi ư nghĩa của chữ nầy. Giờ
đây, ta nắm lấy sự thật về tất cả các
sự vật đó, cái Chơn Lư Tối hậu của tất cả mọi thiên nhiên,
mọi bản thể, để nghiên cứu.
Đây là
điều mà ta thường gọi là "học
Pháp". Học nghiên cứu cả sự thật lẫn sự kiện nào là cái bí ẩn tối
cao của thiên nhiên. Với sự thông hiểu
đó, ta có thể nh́n
đời sống theo một chiều hướng tốt
nhứt. Ta phải nên học tập về bí ẩn của sự thật
đang kiểm soát đời sống, sự thật về
vô thường, khổ, vô ngă, không và như thị (aniccam,
dukkham, anattà, sunnatà, tathatà).
Vô thường (Aniccam): biết tất cả
pháp hữu vi (= sự vật bị điều kiện
hoá) đều chẳng thường hằng, và thăng
trầm luân lưu.
Khổ (Dukkham): biết tất cả pháp hữu
vi, nơi tự thân chúng, chẳng có đủ
khả năng đáp ứng được nguyện vọng của chúng ta.
Vô ngă (Anattà): biết tất cả muôn
pháp chẳng có tự ngă, chẳng có linh hồn.
Không (Sunnatà): biết tất cả
đều rỗng vắng, chẳng có tự thể, chẳng
có cái "Ta", hoặc chẳng có cái ǵ là "của Ta".
Như thị (Tathatà): biết
đúng như thế, biết muôn
pháp là như thế đó.
Chung nhau lại. Các
đặc tánh đó hợp thành Chơn Lư
Tối hậu. Ta phải quán sát các sự việc
đó măi cho đến khi nào
chúng được hoàn toàn nhận thức,
hầu tâm trí chẳng c̣n bao giờ lạc mất hướng
đi. Khi đă thông suốt chơn lư
của mọi thực tế rồi th́ tâm trí chẳng c̣n lầm lẫn nữa và luôn luôn
biết theo đúng con đường chánh đạo.
Bạn có thể thấy hơi buồn cười, nếu bảo rằng tất
cả Chơn lư -- vô thường, khổ, vô ngă, không, như thị --
đều qui kết về như thị
(tathatà)(= như thế đó). Có lẽ
bạn cũng thấy ngộ nghỉnh khi bảo rằng Chơn Lư Tối hậu của muôn
pháp trên hoàn vũ nầy đều rốt
ráo quay về với sự "như thế
đó". (...) Toàn thể Chơn Lư gom gọn lại thành câu nói
hằng ngày, rất tầm thường nầy: "mọi sự việc là như thế
đó". Chẳng có ǵ
được xem như: tốt hay xấu, đúng hay
sai, lời hay lỗ, chiến bại hay chiến thắng, phước báu hay tội ác,
tích cực hay tiêu cực, khi ta nh́n
đến Pháp tối cao nhứt. Pháp ấy lại ở
ngay tại đây, nơi câu nói "giản dị là như thế", bởi v́ sự "như
thế đó" nó cao hơn và vươn lên
khỏi mọi ư nghĩa về tích cực và tiêu cực, lạc quan hay bi quan,
vượt qua cả mọi luận cứ nhị nguyên.
Đấy là nét chấm phá sau cùng. Chơn lư cần phải biết
đến ở giai
đoạn IV nầy chính là sự bí
ẩn của thiên nhiên được diễn đạt thành
một câu nói hết sức giản dị: "muôn sự vật
đều như thế đó, chỉ giản dị là
như thế đó".
Giai đoạn đầu là
thấy được Pháp đầy đủ. Giờ đây, ta sẽ
thấy tâm trí bắt đầu buông bỏ, bắt đầu nới lỏng các sự bấu níu của
nó. Các chỗ bấu níu đó sẽ tan biến đi. Điều nầy sẽ được thể nghiệm
khi bước vào thực tập về các sự bấu níu. Một khi các sự bấu
níu đă
được dẹp xong, bước chót là
thể nghiệm được điều mà "tâm
trí được giải thoát, mọi việc đều
được giải thoát". Tuy nhiên, văn
kinh lại dùng đến từ ngữ "quẳng
trả lại". Đức Phật có nói rằng, đến lúc cuối cùng, ta sẽ
quẳng bỏ trả lại tất cả". Ư nghĩa của lời nói
đó là, bấy lâu nay, suốt
đời, chúng ta đều là phường
trộm cắp, v́ đă
ăn cắp những sự vật của thiên
nhiên, lấy đó làm "của Ta",
xem đó là "Ta". Chúng ta
đă ngu khờ và v́ thế mà phải
chịu đau khổ. Giờ đây, chúng ta trở nên
khôn ngoan hơn nên mới biết từ bỏ hết mọi sự vật. Chúng ta trả
chúng lại hết cho thiên nhiên, và kể từ nay chẳng bao giờ lại
đi trộm cắp nữa. Đến bước cuối cùng
nầy, chúng ta mới nhận thức được ra
rằng, "Ồ! Đó là của thiên nhiên,
đâu phải của Ta." Và lúc ấy
chúng ta mới có thể quẳng trả lại hết về cho thiên nhiên.
Bước cuối cùng
được kết thúc ở chỗ đáng buồn cười nầy. Nó chấm dứt với việc chúng
ta hết c̣n là phường trộm cắp nữa, với sự giải thoát khỏi
bất cứ hậu quả và ảnh hưởng nào của sự bấu níu, ràng buộc. Bước
cuối cùng của sự tập luyện phát triển Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati)
chấm dứt tại đây. Học được bí ẩn của
Pháp là học được sự hiểu biết
rằng chẳng có ǵ đáng để chấp
thủ và rồi cũng chẳng chấp thủ vào bất cứ ǵ. Tất cả
đều được giải thoát. Vấn đề nay đă
vào chung cuộc rồi và chấm dứt ở đây.
Nếu chúng ta muốn lựa một tên
để đặt, ta sẽ nói đó là sự "giải
phóng", sự "cứu rỗi". Dường như tất cả mọi tôn giáo
đồng có một mục đích và gọi
đó bằng một tên chung. Với
chúng tôi, ư nghĩa của điều vừa được
mô tả ở trên -- chấm dứt sự bấu níu và quẳng trả lại tất cả
về cho thiên nhiên -- là sự thông hiểu của chúng tôi về giải phóng.
Có lẽ các tôn giáo khác cũng gán cho sự giải phóng các ư nghĩa nào
khác nữa, nào ai đă biết chắc?
Trong Phật giáo, giải phóng có nghĩa là giải thoát ra khỏi mọi
loại và mọi h́nh thức của sự bám chặt (chấp thủ)
để chúng ta có thể sống cuộc đời vượt
lên trên thế gian nầy. Mặc dầu thân thể chúng ta c̣n nương
tựa vào thế gian nầy, nhưng tâm trí chúng ta vượt thoát lên khỏi
đó. Như thế, tất cả "vấn đề (khó khăn)"
của chúng đều biến mất. Đấy là thể thức phát triển tiềm năng
cao nhứt của đời sống, bằng đường lối bốn giai đoạn của sự thực
tập. C̣n nhiều chi tiết khác cần
được cứu xét, nhưng tôi xin dành
lại vào các buổi pháp thoại sau nầy.
Hôm nay, tôi chỉ
đưa ra một đại cương tổng quát về những ǵ cần làm khi thực
tập. Với các dữ kiện bối cảnh đó,
việc thực tập sẽ được dễ dàng hơn ở mỗi bước, mỗi giai
đoạn. Giờ đây, tôi xin kết thúc buổi
pháp thoại nầy.
-ooOoo-
Bài 2
Bắt
đầu dấn bước
Trong bài pháp thoại hôm nay, chúng tôi sẽ nói
đến sự thực tập ở giai đoạn I của sự
Quán tưởng Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati) liên
quan đến Thân (Kàya).
Nhưng tôi xin được báo trước với các
bạn, có đến bốn nhóm sự việc mà ta cần phải quán sát. Mỗi
nhóm lại bao gồm bốn pháp (dhamma). Như thế, có tất
cả là mười sáu pháp. Trong mười sáu pháp
đó, chỉ có hai pháp liên hệ
đến chính hơi thở thôi. Hơi thở chỉ
được quán tưởng trong hai bước. Mười bốn pháp c̣n
lại qui chiếu về các pháp khác. Tổng cộng, có tất cả bốn
phần, gọi là bốn bộ bốn (tetrads), mỗi bộ bốn
chia ra bốn bước. Hôm nay, tôi sẽ nói về hai bước
đầu tiên của bộ bốn thứ
nhứt. Đó là sự thực tập quán
tưởng về Thân (Kàya).
Các chuẩn bị về vật chất .
Ta khởi sự ngay tại chỗ bắt
đầu việc thực tập Quán tưởng Giác
niệm về Hơi thở (Ànàpànasati). Trước hết, ta cần
phải chọn một nơi thích hợp cho việc thực tập. Ta lựa một chỗ nào
khá nhứt, biết rằng chẳng làm sao mà có
được một nơi thật hoàn hảo. Ta
cố lựa một nơi nào yên tịnh và an ổn,
đủ điều kiện, thời tiết khá tốt, và chẳng hề bị khuấy rầy.
Thế nhưng, khi các điều kiện chẳng
được như ư mong muốn, ta cũng nên tạm vui ḷng với những ǵ
ta đang có. Thế nào rồi ta
cũng phải chọn một nơi nào đó, ở chốn
nào đó. Ta phải nên có
đủ sức để ngồi quán tưởng ngay cả trên
chuyến xe lửa đến từ Bangkok. Đôi khi,
ta có thể chú tâm đến hơi thở cho đến lúc chẳng c̣n nghe
tiếng xe lửa đang lăn bánh và
chẳng cảm thấy lắc lư khi xe di chuyển.
Điều đó cho thấy rằng ta có thể chọn một điạ
điểm v à lợi dụng các điều kiện
có sẵn theo cách nào tốt nhứt cho ta.
Ta chớ nên để ḿnh
bị bất cứ hoàn cảnh nào đánh bại,
ngay cả khi ngồi trên xe lửa. Cho dầu ta có
đủ các điều kiện hoàn hảo hay
không chăng nữa, ta cũng cố gắng lợi
dụng chúng đến mức tối đa và thực hành những ǵ ta có thể
làm được. Khi muốn thực tập, ta có
thể lợi dụng tiếng xe lửa chạy làm một
đề tài quán tưởng. Tiếng "x́nh
xịt x́nh xịt" của xe lửa lăn bánh
trên đường rầy có thể là
đề tài quán tưởng, thay v́ hơi
thở. Như thế ta cũng chẳng từ chối bất cứ
điạ điểm nào trên thế giới,
cho dầu điạ điểm ấy có thích hợp cùng
không. Ta chẳng nên vịn vào cớ nào khác
để đ̣i hỏi phải có cho
được một điạ điểm lư tưởng.
Bước chuẩn bị thứ hai tiếp theo là sự dọn ḿnh.
Thân thể cần phải được b́nh
thường, chẳng bịnh tật, và chẳng vướng các khó khăn
về hô hấp hay tiêu hoá. Đặc
biệt hơn nữa, ta cần "sửa soạn" cái lỗ mũi để nó có thể làm
tṛn nhiệm vụ một cách êm ái và đúng
đắn. Vào thời xưa, người ta rót nước trong sạch vào ḷng
bàn tay, đưa mũi hít vào rồi
thổi hắt mạnh ra. Nếu ta làm như thế
đôi ba lần, th́ mũi trở nên sạch sẽ và hơi thở
được thông. Như thế, mũi sẽ nhạy cảm
hơn mỗi khi hơi thở ra vào.
Đây là một thí dụ làm thế nào
để chuẩn bị cho thân thể sẵn sàng.
Thời gian và thầy dạy.
Kế đến, tôi muốn
nói đến thời gian và cách chuẩn bị thời gian
để thực tập. Một khi quyết tâm thực
tập thật sự đàng hoàng, ta cần nên chọn lấy một khoảng thời
gian thật thích nghi mà ta có thể t́m thấy
được. Bằng không, ta hăy chấp
nhận bất cứ thời gian nào ta có thể xử dụng
được. Ta đâu cần phải lệ thuộc vào
một thời cố định trong ngày.
Nếu có thể, ta nên chọn khoảng thời gian nào chẳng bị khuấy rối
hay xao lăng. Nếu chẳng có thời gian
được như thế, th́ ta hăy dùng ngay thời gian khi rảnh rỗi
nhứt. Rồi th́ tâm trí sẽ học lấy cách giữ sao cho khỏi bị xao lăng
dầu có bao nhiêu sự khuấy rối đến làm
rộn. Thật ra, ta đang luyện tâm để
khỏi bị xao lăng, cho dầu có việc ǵ
đang xảy ra ở chung quanh ta. Tâm sẽ
tự học lấy cách khiến tâm trở nên an tịnh. Bạn
đừng tự hạn chế ḿnh vào một
thời nào khi mọi việc đều êm
xuôi cả, làm sao mà t́m ra được một
thời như thế? Nhiều người cứ chờ t́m măi cho
đến lúc họ chẳng thấy có thời giờ nào
để thực tập quán tưởng. Điều đó chẳng
đúng. Bạn hăy luôn luôn mềm dẻo và
đủ sức để thực tập vào ngay
bất cứ lúc nào.
Điều cần cứu xét tiếp theo l à
điều mà người ta thường gọi là
đi t́m kiếm một vị sư phụ,
àcàriya, một bực thầy. Nhưng thật ra, ngay cả trong các hệ
thống huấn luyện cổ truyền, người ta cũng ít khi nói
đến một vị sư phụ, mà thường
gọi vị ấy là một người bạn tốt, một thiện hữu tri thức, (kalyàna
mitta) hay là thiện tri thức. Bảo rằng
đó là một "người bạn" -- một
vị cố vấn có thể giúp đỡ ta được --
th́ đúng. Tuy nhiên, ta
chớ nên quên nguyên tắc căn bản là
chẳng có một ai có thể giúp trực tiếp một ai cả. Thế mà ngày nay,
lắm kẻ lại muốn có một vị giáo sư để
trông nom canh chừng cho họ! Một người bạn tốt là kẻ nào có
sự hiểu biết và kinh nghiệm bổn thân rộng răi về sự thực tập quán
tưởng, hay về bất cứ điều ǵ
mà chúng ta đang nỗ lực thực hành.
Mặc dầu người ấy có đủ khả năng để
giải đáp các câu hỏi thắc mắc và giải quyết vài khó khăn,
nhưng cũng chẳng cần thiết để người ấy phải ngồi bên cạnh
ta canh chừng mỗi hơi thở. Một người bạn tốt sẵn sàng giải
đáp các câu hỏi và giúp ta
vượt qua vài trở ngại, như thế cũng đă
quá đủ rồi. Có được một bực thiện trí
thức như vậy là một điều chuẩn
bị nữa mà ta cần lo thu xếp.
Tư thế ngồi.
Giờ đây, chúng ta
xét đến các động tác thực sự của chính việc quán tưởng. Việc đầu
tiên phải bàn luận là tư thế ngồi. Thật là cần thiết phải
ngồi thế nào cho vững vàng và an toàn,
để khi nơi tâm tư, sự tỉnh giác chỉ c̣n
nửa phần, ta chẳng phải ngă té. Bạn hăy có
đủ sức để ngồi vững như một ngọn kim
tự tháp. Các kim tự tháp chẳng thể nào ngă
đổ xuống, v́ chúng
được xây dựng trên một nền rất
vững chăi và bốn sườn xung quanh vươn lên ngay giữa
đỉnh. Chẳng cách nào
để chúng có thể đổ xuống cả. Bạn hăy
nghĩ đến các ngọn kim tự tháp bên
Ai cập, đă
đứng vững rất lâu đời. Cách tốt nhứt
để làm giống như thế là hăy ngồi xếp bằng lại. Duỗi hai
chơn ra phía trước, rồi kéo chơn mặt gát lên
đùi trái, và chơn trái gát lên
đùi mặt. Những ai c̣n chưa
ngồi theo lối ấy lần nào, những ai c̣n chưa từng ngồi bẹp trên sàn
nhà, có lẽ họ cần một thời gian để
tập cho thân thể ngồi trong tư thế vừa nói; nhưng mà tư thế
đó cũng rất đáng công để tập cho được.
Bạn có thể bền chí, từ từ tập luyện thân bạn ráng ngồi như thế đó.
Và rồi bạn chẳng bao giờ té ngồi nữa. Chẳng thể nào ngă tới
trước, ngă ra sau, hay ngă nghiêng bên hông
được. Vào thời xưa, tư thế
ngồi như vậy được gọi là thế
ngồi kiết già, hay là tư thế hoa sen (padmàsana).
Ngồi thẳng lưng rất quan trọng, với các xương
sườn và cột xương sống ngay hàng nhau, chẳng cong vẹo. Các xương
sườn cần được nằm chồng vừa vặn lên
nhau để ăn khớp với nhau một cách
thích hợp. Đó là thế ngồi đúng
cách b́nh thường của thân thể. Cột xương sống làm nơi nương
tựa thiết yếu cho hệ thống thần kinh, cho nên ta phải ngồi thẳng
đứng lên
để cho nó được ngay ngắn. Đây là
tư thế ngồi tốt.
Buổi ban sơ, có thể vài bạn c̣n chưa bao giờ
ngồi như thế. Tuy vậy, tôi yêu cầu các bạn nên cố gắng thử tập.
Lần đầu tiên, có lẽ bạn xếp
được hai chơn phía trước nhưng chưa
tréo nhau lại được. Nhưng như thế cũng đủ khi mới bắt đầu. Về sau,
bạn kéo được một chơn gát lên
đùi bên kia và tréo được một
chơn. Sau cùng, bạn sẽ tréo cả hai chơn trong tư thế
kiết già, ngồi thế hoa sen. Tư thế ngồi nầy thật vững chắc như
một ngọn kim tự tháp và chẳng hề ngả nghiêng khi tâm bắt
đầu nhập định, hay vừa đến mức cận
định. Cột xương sống thẳng đứng rất là cần thiết, v́ có
nhiều loại hơi thở khác nhau: khi xương sống cong xuống, có một
loại hơi thở; khi xương sống thẳng lên, lại có một loại hơi thở
khác hơn hơi thở trước. V́ lẽ đó, bạn
phải cố gắng giữ xương sống thật thẳng, dẫu rằng có sự khó khăn ở
buổi ban đầu.
Kế đến là
hai bàn tay. Cách thoải mái và dễ nhứt là buông thỏng hai bàn tay
đặt trên hai
đầu gối. Một cách khác là
đặt bàn tay nầy vào ḷng bàn
tay kia. Cách nầy có vẻ hơi thiếu tiện nghi với vài người, v́ hai
bàn tay sẽ trở nên hâm nóng. Nếu được
đặt trên gối, chúng sẽ bớt nóng. Vài nhóm thực tập khuyên
nên xếp hai bàn tay (bàn tay nầy lên trên bàn tay kia) với hai
ngón tay cái chạm vào nhau, để có
được hai bàn tay "nhập định".
Áp chặt hai bàn tay vào nhau cũng giúp cho
định lực, điều đó cũng tốt. Ở Trung
Hoa người ta thường làm như thế. Bạn hăy chọn lấy lối nào
bạn thấy thích hợp với bạn: hoặc đặt
trên đầu gối ít nóng hơn, hoặc
để trên đùi nếu thấy
thoải mái, hoặc áp mạnh vào nhau để
tăng định lực. (...)
Mắt dịu mát và chú tâm.
Giờ đến cặp mắt.
Ta phải nên để mắt mở hay nhắm
lại? Nhiều người tin rằng họ phải nhắm mắt lại, v́ họ chẳng
thể nào quán tưởng được khi mở mắt.
Nếu bạn nghiêm chỉnh trong khi thi hành các
điều bạn đang thực tập và có
đầy đủ dơng tâm th́ chẳng thấy
có khó khăn chi khi thực tập với đôi
mắt mở rộng. Bạn hăy bắt đầu
với mắt mở. Mở mắt với quyết tâm nh́n vào chót mũi.
Điều nầy chẳng phải là chẳng
thể được. Chỉ cần một chút cố gắng là
làm được. Nh́n vào chót mũi
để cho mắt đừng nh́n lảng sang
các sự vật khác. Khi mắt nhắm, ta thường có khuynh hướng thiu thỉu
ngủ, vậy nên thận trọng về việc nhắm mắt. Lại nữa, khi nhắm lại
th́ mắt sẽ trở nên nóng và khô. Quán tưởng với
đôi mắt mở sẽ giúp ta giữ được sự
tỉnh táo và duy tŕ được sự
dịu mát và thoải mái cho mắt. Hơn nữa,
điều nầy sẽ trợ lực cho tâm được tập
trung lại và thúc đẩy sự phát
triển của định lực (samàdhi, phiên âm: tam
ma đề, nghĩa:
định lực). Khi
định lực được phát triển tới nửa
đường, th́ tự nhiên đôi mắt tự
động nhắm lại. Mí mắt được thư giăn và tất nhiên sẽ khép
lại. Chẳng có chi phải lo lắng về
điều nầy cả. Kỹ thuật trọn vẹn là bắt
đầu với đôi mắt mở, nh́n vào
chót mũi cho đến khi nào
định lực (samadhi)
phát triển, bấy giờ mắt sẽ tự động
nhắm lại. Đó là cách săn sóc
về mắt.
Thực tập với đôi
mắt mở ra, nh́n vào chót mũi là một giai tầng
đáng lưu ư về định lực. Nếu ta an lập
được tâm tư chăm chú đến chót mũi, ta sẽ chẳng nh́n thấy
đến các sự vật khác. Nếu làm
được như vậy, th́
đó đă là một loại
định lực (samadhi) rồi.
Ta có được lợi điểm ngay vào
lúc mới khởi tập, bằng cách giản dị hướng tâm trụ lại trên chót
mũi chẳng nh́n thấy ǵ khác nữa. Nếu toàn thể tâm tư, nếu tất cả
các mối quan tâm, đều gom lại trong
việc nh́n lên chót mũi, thế là chẳng c̣n ǵ
để nh́n thấy ra nữa.
Đó là
định lực (samadhi),
một thứ định lực chẳng phải là
không đáng kể. V́ lẽ
đó, bạn nên cố gắng thử khởi
sự bằng đôi mắt mở ra.
Xin bạn hăy quan sát
điều nầy mà bất cứ ai cũng làm
được. Ta chú tâm nh́n
đến chót mũi, vừa có cảm giác ở mũi
lại vừa có cảm giác ở hơi thở. Cả hai việc đó có thể cùng
làm một lúc. Dường như cả hai cùng xảy ra
đúng vào một lúc, nhưng thật
sự th́ không như vậy. Sự kiện nầy cũng chẳng có ǵ khác thường,
hay siêu nhiên cả. Do v́ tốc lực rất nhanh của tâm, cho nên trong
khi mắt nh́n vào chót mũi, hành giả vẫn hay biết
đến hơi thở ra, hơi thở vào.
Điều đó, chính bạn sẽ tự ḿnh
nhận thấy ra như thế.
Theo dơi hơi thở với giác niệm.
Rốt cuộc rồi ta cũng
đi đến việc ghi nhận, việc quán tưởng
về hơi thở. Để khởi đầu, ta cần phải có giác niệm (Sati),
tức là sự hay biết hoặc sự tỉnh giác. Ta bắt
đầu xử dụng giác niệm
bằng cách chú tâm vào mỗi hơi thở vào, mỗi hơi thở ra. Ta huấn
luyện giác niệm bằng cách ghi nhận rằng ta sắp thở vào hoặc
sắp thở ra. Hăy để hơi thở tiếp tục
một cách thoải mái và b́nh thường. Hăy
để cho hơi thở được tư nhiên.
Đừng can thiệp chút nào vào
hơi thở. Rồi th́ quán sát kỹ mỗi hơi thở với giác niệm. Ta thở vào
như thế nào? Hơi thở ra ra làm sao? Hăy dùng giác niệm
để ghi nhận hơi thở b́nh
thường. Trong buổi đầu, ta tập luyện
và phát triển giác niệm với kỹ thuật thường
được gọi là "theo dơi" hay "đuổi
theo". Hơi thở vào, bắt đầu từ
chót mũi và ta tưởng tượng như nó tận cùng nơi rún. Hơi thở
ra, ta tưởng tượng như bắt đầu nơi
rún và chấm dứt ở chót mũi. Ở giữa chừng là khoảng không
gian mà hơi thở di chuyển vào và ra. Giác niệm quan sát các
đặc tánh của sự di chuyển vào
và ra đó, từ nơi chót mũi cho đến rún,
và rồi tới lui, tới lui...
Đừng để cho có kẽ hở, cũng đứng để cho có đứt khoảng. Đây là
bài học thứ nhứt: quán sát hơi thở với giác niệm (sati).
Ta chẳng phải là nhà giải phẩu, nhưng ta cũng
biết rằng hơi thở chỉ đi vào
phổi, và hơi thở chẳng đi xuống trọn
con đường cho đến rún. Ta chỉ tưởng tượng rằng hơi thở chấm dứt ở
rún, và chẳng cho đấy là
sự thật đâu. Đó chỉ là một sự
giả định căn cứ trên cảm giác
của ta cùng với sức nhạy cảm đang ứng
với sự di chuyển của hơi thở. Khi thở, ta "cảm thấy" sự di chuyển
xuống đến tận rún. Ta dùng cảm giác
đó làm căn
bản cho việc thực tập của chúng ta và theo dơi hơi thở ở
khoảng giữa từ chót mũi đến rún.
Sự phân biệt giữa việc có phải chính giác
niệm đă theo dơi hơi thở
vào và hơi thở ra, cùng với việc có phải giác niệm
đă thúc dục tâm phải theo dơi
hơi thở vào và hơi thở ra, ngay trong lúc nầy, c̣n chưa mấy quan
trọng. Điều quan trọng duy nhứt là
hiện nay là phải quan sát hơi thở như thể là
đang rượt đuổi theo hơi thở mà
chẳng để bị lạc mất nó. Hơi thở vào
trong và ngưng lại một chốc. Kế đó,
hơi thở ấy đi ra rồi ngưng một chốc. Vào và ra, vào và ra,
với nhiều hơi thở ngắn hơn xen vào ở giữa. Hăy ghi nhận tất cả và
đừng bỏ sót để bất cứ ǵ thoát
khỏi được. Đừng để có khoảng trống mà
tâm có thể đi lang bang. Hăy
giữ chặt tâm luôn luôn cắm sâu vào hơi thở vào và ra.
Đấy l à bài học thứ nhứt cần
được tập luyện. Có thể chẳng dễ ǵ
đâu nhé. Có thể nó đ̣i hỏi ba
ngày, ba tuần, hay ba tháng cho đến
khi nào bạn đă
đủ sức làm
được như thế. Đó là sự việc mà
ta cần làm ngay trong bước thứ nhứt. Ở
đây, tôi chỉ giản dị giải thích
phương pháp tập luyện thôi. Các bạn có thể chẳng tiến được xa bao
nhiêu trong một khoá tu học mười ngày như thế nầy, nhưng
điều quan trọng là biết rơ
những ǵ cần phải làm và bắt đầu dấn
bước. Một khi các bạn đă thông hiểu
đúng đắn phương pháp rồi, th́
các bạn có thể thực tập lấy cho đến
khi các bạn thành công. Vậy, hăy bắt
đầu quán sát hơi thở giữa hai tiêu
điểm đó mà chẳng
để cho tâm có được cơ hội chạy lang
bang theo việc ǵ khác.
Nhiều loại hơi thở.
Trong việc thực tập sự theo dơi hơi thở, ta có
dịp quán sát nhiều đặc điểm khác nhau
của hơi thở. Ta có thể cảm nhận được nhiều sư việc. Thí dụ như, ta
cảm được chiều dài và chiều ngắn của hơi thở. Ta học một
cách tự nhiên về hơi thở dài và hơi thở ngắn. Rồi ta lại học
được hơi thở thô và hơi thở tế.
Lại nữa, ta quan sát được hơi thở
êm dịu với hơi thở khó khăn.
Về sau, ta sẽ quan sát sự phản ứng đối với các đặc tánh đó. Trong
bước thứ nhứt, bạn hăy quán sát các loại hơi thở nầy: dài
và ngắn, thô và tế, nhẹ nhàng và nặng nề. Hăy bắt
đầu quán sát các loại hơi thở đó bằng
cách dùng giác niệm (Sati) mà cảm nhận
được chúng.
Ta c̣n cần học tập cách quán sát trong chi tiết
kỹ hơn, tức là, quán sát phản ứng hay ảnh hưởng của các loại hơi
thở. Chúng đă gây ra những
phản ứng nào? Chúng ảnh hưởng ra sao
đến sự hay biết của ta? Thí dụ như, hơi thở dài ảnh hưởng
như thế nào đến sự tỉnh giác của ta?
Phản ứng nào xảy ra khi thở hơi ngắn? Hơi thở thô phù và
hơi thở tế nhị, hơi thở êm dịu và hơi thở khó khăn,
đă có những ảnh hưởng nào? Ta quán sát các loại hơi thở
khác nhau và các ảnh hưởng dị biệt của chúng cho
đến khi nào ta có thể phân
biệt rơ ràng thế nào là hơi thở dài chẳng giống với hơi thở ngắn,
hơi thở thô khác với hơi thở tế, hơi thở êm dịu bất
đồng với hơi thở khó khăn. Ta phải nên
thấu biết rơ về các đặc tánh của các
hơi thở, các loại ảnh hưởng của chúng đă tạo nên, và các
phản ứng về cảm tính, về tỉnh giác của tâm trí ta
đối với chúng.
Song hành với sự quán sát vừa kể, ta c̣n cần
t́m nếm đến các hương vị của các loại
hơi thở. Hương vị của chúng chính là sự khởi lên các loại
cảm thọ như hỉ lạc, ưu bi, khổ sở, phiền muộn, và măn nguyện. Hăy
quán sát và thể nghiệm các hương vị, tức là hậu quả
đă
được gây nên,
đặc biệt là hơi thở dài, hơi
thở ngắn, thô và tế, êm dịu và khó khăn.
Hăy khám phá ra tại sao chúng lại có hương vị khác nhau.
Thí dụ như, ta sẽ thấy hơi thở dài thường mang
đến một cảm quan lớn lao về an hoà
và phước lạc, nó có một hương vị vui sướng nhiều hơn một hơi thở
ngắn. Mỗi loại hơi thở mang đến một
loại hương vị vui sướng khác nhau. Ta học tập được cách phân tách
và phân biệt hương vị bất đồng
của các loại hơi thở khi ta quan sát chúng.
Sau cùng, ta sẽ khám phá ra các loại nguyên
nhân đă khiến cho hơi thở trở
nên dài, ngắn khác nhau. Tự ḿnh, ta từ từ khám phá ra
được các nguyên nhân
đó. Điều nào
đă khiến cho hơi thở dài ra?
Hơi thở dài đem lại một khí sắc như
thế nào? C̣n hơi thở ngắn th́ sao? Như thế, ta nhờ
đó mà biết
được những nguyên nhân và
điều kiện gây ra hơi thở dài,
ngắn khác nhau.
Có một cách giúp ta
điều chỉnh được hơi thở dài
hay ngắn ngay trong các bước đầu tiên.
Nếu ta muốn học cách đó, th́
ta có một kỹ thuật gọi là "đếm". Thí
dụ như, trong thời gian của một hơi thở vào, ta
đếm đến năm, bắt đầu từ một cho đến
năm. Nếu trong thời gian đó, ta đếm được đến mười, từ một đến mười,
th́ hơi thở theo đó đă
dài ra chừng ấy. Trong thời gian một hơi thở thường, ta chỉ
đếm được đến năm. Trong thời gian một
hơi thở ngắn, có thể ta chỉ đếm tới ba thôi và lúc ấy th́
đổi hơi thở, nếu ta muốn. Lúc nào
cũng nên đếm cùng một nhịp
độ, v́ nhịp
độ nhanh chậm nếu bị thay đổi th́
ảnh hưởng của sự đếm nhiều hơn hay ít
hơn sẽ bị huỷ mất. Nhờ sự đếm mà bề dài của thời gian hơi
thở được điều chỉnh lại. Ta có thể
kéo dài, hoặc rút ngắn các thời gian
đó lại với kỹ thuật đặc biệt nầy.
Nhưng ta chẳng cần phải dùng
đến kỹ thuật ấy luôn. Đấy chỉ là một cuộc thử nghiệm nhỏ,
để lâu lâu ta điều chỉnh lại hơi thở
hoặc để t́m biết về hơi thở kỹ lưỡng hơn. Bạn có thể làm
thử như thế, nếu bạn muốn.
Bước một: Hơi thở dài .
Đến đây, ta đ ă phát triển
được một sự hiểu biết sơ khởi thích
hợp về hơi thở. Ta biết được các loại đặc tánh của hơi thở: dài,
ngắn, thô, tế, êm dịu, khó khăn. Sự
hiểu biết của ta nới rộng đến các sự việc có liên hệ với
hơi thở, các phản ứng cùng ảnh hưởng của các
đặc tánh đến tâm tư ta. Ta cũng biết
cả cách kiểm soát chiều dài của mỗi hơi thở. Việc kế tiếp
phải làm là bước vào sự luyện tập với chúng. Giờ
đây, ta đă hiểu biết rơ tất cả
mọi sự việc đó, ta bắt đầu sự tập
luyện với hơi thở dài.
Ta đang đi đến bài
học thứ nhứt, bước một, tức là sự quán tưởng về hơi thở dài.
Ta có thể thở dài hơi bất cứ lúc nào ta cần
đến. Ta đă học cách kéo dài
hơi thở ra và giữ nó như thế. Trong bài học thứ nhứt nầy, ta sẽ
chỉ khảo sát riêng về hơi thở dài mà thôi. Ta nghiên cứu bản thể
của hơi thở dài và tất cả các sự kiện liên quan
đến nó. Khi có hơi thở dài,
hơi thở đó có thích thú không? Hơi
thở đó tự nhiên và tầm thường như thế nào? T́nh trạng êm ả
và hoan lạc nào đă có mặt? Hơi
thở dài khác với hơi thở ngắn ở những
điểm nào? Đây là cách
ta đang học tập nghiên cứu về
hơi thở dài, ứng dụng theo phương pháp vừa
được mô tả ở trên,
để khám phá ra các đặc tánh, ảnh
hưởng và hương vị của hơi thở dài. Ở
đây, chỉ học tập về hơi thở dài
mà thôi. Bạn hăy ngồi yên và điều
nghiên kỹ chỉ riêng về hơi thở dài.
Đó là bài học thứ nhứt: hiểu
biết được tất cả những ǵ có
liên quan đến hơi thở dài.
Sau cùng, ta cần quan sát thân thể tác
động liên quan như thế nào với
hơi thở dài. Khi hít vào một hơi thở dài, thân thể chuyển
động ra làm sao? Ở chỗ nào có
sự nở rộng ra? Ở nơi nào thân thể thu rút lại? Khi có một hơi thở
thật dài và sâu, ngực có nở ra hay rút lại không? C̣n bụng, có
ph́nh lên hay xẹp xuống không? Đấy là
những sự việc mà ta cần quan sát. Khi quan sát như thế, rất có thể
bạn học được, thân thể đă
chuyển động một cách khác hơn bạn đă
tưởng. Phần đông người ta thường nghĩ
quá giản dị rằng khi thở vào th́ ngực nở ra và khi thở ra
th́ ngực thu rút lại. Tuy nhiên, khi nghiên cứu hơi thở thật kỹ
lưỡng, ta thấy khi hít vào một hơi thở thật dài th́ bụng co lại và
ngực nở ra. Với một hơi thở dài đến
mức tối đa, th́ bụng lại nở ra và ngực lại xẹp xuống. Ta
thấy nó khác hẳn với sự tin tưởng thông thường. Ta
đừng bao giờ nên xem bất cứ
việc ǵ như là một sự thật đă
được có sẵn từ trước. Bạn cũng c̣n
cần phải t́m hiểu cho rơ ràng ngay cả về các sự kiện thiên nhiên căn
bản nhứt nữa.
Ta nghiên cứu mọi sự việc liên quan
đến hơi thở dài và học tập các
bí ẩn của nó để biết rơ
được về bản thể. Ta đủ khả năng để
quán tưởng chiều dài hơi thở. Ta
đủ sức để duy tŕ và bảo vệ
hơi thở dài. Đ́ều
đó có nghĩa là ta trở nên
thiện xảo về các vấn đề có liên
quan đến hơi thở dài. Vậy,
thực tập thở hơi thở dài là bài học thứ nhứt.
Một điều vô cùng
quan trọng cần phải học là mối liên hệ hỗ tương giữa hơi thở và
thân thể. Cả hai kết nối với nhau thật chặt chẽ. Bạn hăy khám phá
ra các hiệu quả của hơi thở dài lên trên thân thể, và phát hiện ra
các niềm vui sướng và an lạc được
mang đến. Về sau nầy, bạn sẽ biết được điều bí ẩn nầy: có hai
thân: thân thể và thân hơi, tức là, tấm thân vật
chất nầy với các luồng hơi thở. Ngay ở giai
đoạn sơ khởi nầy, bạn cũng nên
quan sát điều đó cho thật cẩn thận,
mặc dầu chúng ta sẽ nghiên cứu thêm về
điều đó, đặc biệt là ở bước
thứ ba. Ngay tại bài đang học đây,
ta nên nhận thức rơ rằng thân thể với hơi thở liên kết với
nhau như thế nào. Do đó, xin bạn hăy
quán sát kỹ lưỡng hơi thở khi dài khác với hơi thở khi ngắn ra làm
sao, và ảnh hưởng của chúng đă
gây ra cho thân thể. Ta càng vững niềm xác tín thêm -- qua kinh
nghiệm bản thân, chớ chẳng phải qua suy tư, lư luận -- rằng hơi
thở kết hợp thật mật thiết với tấm thân vật chất.
Bước hai: Hơi thở ngắn.
Bài thứ nhứt về hơi thở dài
đă
được học xong. Ta có thể bước sang bài
thứ hai về hơi thở ngắn. Thật ra, ta chẳng có chi nhiều
để nói về sự thực tập ở
bước nầy, v́ cách hành tŕ cũng giống với bước thứ nhứt.
Điểm sai biệt duy nhứt giữa hai
bước là ở bài thứ hai ta xử dụng
đến loại hơi thở ngắn. Những ǵ
đă học về hơi thở dài, ta cũng
học tương đương như thế với hơi thở
ngắn.
Thí dụ như, ta quan sát và cảm nhận ngay rằng
hơi thở dài mang đến sự êm dịu
và thoải mái, trong khi đó hơi thở
ngắn đưa tới sự bất b́nh thường tức là, sự bất an, xao
động và thiếu thoải mái. Với
sự thông hiểu đó, ta biết cách làm
thế nào cho thân thể trở nên thoải mái, hoặc chẳng thoải mái, bằng
phương pháp điều chỉnh hơi thở. Ta
cần hiểu rơ sự sai biệt bổ túc cho nhau giữa hai loại hơi
thở nầy, càng rơ ràng càng tốt. Vậy, trong bài thứ hai nầy, ta
quan tâm đặc biệt đến hơi thở ngắn. Hăy
nghiên cứu mọi khía cạnh, mọi đặc
tánh của hơi thở ngắn cho đến khi bạn hiểu thật rộng răi về
nó cũng như bạn đă hiểu về hơi
thở dài. Mặc dầu hai loại hơi thở có bản thể
đối ngược nhau, nhưng phuơng pháp
nghiên cứu cả hai cũng đồng
nhất.
Điểm chú tâm thật đặc biệt ở đây là sự
quan sát khi ta thở hơi dài th́ hơi thở
đó trở nên tế nhị. C̣n khi ta
thở hơi ngắn, hơi ấy lại thô phù. Khi ta
đă học
được cách làm cho hơi thở trở
nên tế nhị hay thô phù theo ư ta muốn, th́ ta có thể ứng dụng sự
hiểu biết đó để đem phần lợi lạc về
cho ta. Lợi lạc đó là hơi thở tế nhị làm lắng dịu thân thể
ta.
Hơi thở ấy trở nên mát dịu. Khi ta muốn thân
thể ta trở nên thanh lương, th́ ta thở hơi thở tế nhị. Và khi muốn
hơi thở trở nên tế nhị, ta chỉ cần thở hơi thở dài ra.
Đây là một
điều mà ta rất cần học và cần
tập.
Một thí dụ khác là khi ta giận th́ hơi thở trở
nên ngắn. Khi có hơi thở ngắn, th́ thân thể trở nên bị xáo trộn và
bị phiền rộn. Nếu ta có thể thở hơi dài hơn th́ cơn giận chẳng thể
nào tiếp tục lâu được nữa. Khi ta
giận, hơi thở sẽ ngắn và thô phù, và rồi thân thể cũng trở
nên thô phù theo. Ta có thể đẩy cơn
giận đi ra xa bằng cách thở hơi dài và nhẹ. Thân thể sẽ
được thư giăn và cơn giận kia
sẽ biến mất. Đây là một trong
các thí dụ của sự liên hệ hỗ tương mật thiết giữa hơi thở, thân
thể và tâm tư. Đấy là
điều mà ta cần thông hiểu về
sự liên hệ và dị biệt giữa hai loại hơi thở dài và ngắn. Ta cần
nên thể nghiệm điều đó, tự ḿnh
cảm nhận lấy điều đó, thực tập điều
ấy cho tinh chuyên và thiện xảo.
Thổi bay
đi các t́nh
cảm.
Để tóm tắt hai bước
đầu: ta có thể điều chỉnh, kiểm soát,
giới hạn và chế ngự các t́nh cảm bằng cách vận dụng hơi thở.
Ta có thể khiến cho t́nh cảm trở nên
đứng đắn, hữu dụng và lợi ích, qua hơi thở. Xuyên qua sự
thông hiểu về hơi thở, ta phát triển
được khả năng kiểm soát chính hơi thở. Nếu ta luyện tập được hơi
thở, th́ ta cũng kiểm soát
được các t́nh cảm, tức là, thích ứng
được với niềm hoan lạc và sự
thống khổ của đời ta. Hăy thực
tập cho đến khi nào bạn cảm
nhận được điều đó. Sự luyện tập sẽ c̣n
dở dang, nếu ta c̣n chưa thấy rơ điều
đó.
Khi bạn đang ngồi
quán tưởng, có một con muỗi chích bạn, tâm bạn khởi lên một
tư tưởng bất thiện. Làm cách nào đuổi
đi được tư tưởng xấu đó? Đuổi nó đi bằng cách cải thiện hơi thở:
khiến hơi thở trở nên dài hơn, tế nhị hơn và
đủ sức thổi bay đi cái t́nh
cảm chẳng lành đó. Đó là cách
tốt nhứt để giải quyết một vấn đề như
thế. Đấy lại là một thí dụ khác nữa về sự ích lợi của việc
thông hiểu và về các khả năng mà
chúng ta hiện đang thực tập để phát
triển.
Các đề tài
cùng các quan điểm cần được học tập
nơi bài thứ nhứt về hơi thở dài và bài thứ hai về hơi thở
ngắn, đều giống nhau. Điểm sai biệt
duy nhứt là mọi sự việc đều bổ
túc cho nhau. Số lượng và chủng loại các sự việc cần học
tập đều bằng nhau. Nhưng chỗ khác
nhau giữa hơi thở dài và hơi thở ngắn
đă
đưa đến nhiều loạt sự kiện bổ sung
cho nhau.
Vâng, thời gian dành cho buổi pháp thoại hôm
nay đă chấm dứt. Chúng ta chỉ
có thời giờ để bàn luận
bước một và bước hai thôi. Ta sẽ xét
đến các bước khác trong
bộ bốn thứ nhứt vào ngày mai. Hôm nay xin ngưng tại
đây.
-ooOoo-
Bài 3
An tịnh thân hành
Hôm nay, tôi xin nói về các bước thứ ba và
thứ tư trong bộ bốn thứ nhứt (1st tetrad), tức là các
bước c̣n lại có liên quan đến
Thân (Kàya).
Bước thứ ba: Thể nghiệm mọi thân.
Trong bước thứ ba, mục tiêu là sự thể
nghiệm tất cả các Thân (Kàya). Cốt lơi của bước
nầy là trong khi thở vào, thở ra, hành giả cảm nhận
đến tất cả thân (Kàya,
nhóm, tập hợp). Ta đă bắt
đầu quan sát, trong khi thực tập hai
bước đầu tiên,
rằng hơi thở là một tác viên gây điều
kiện đến tấm thân vật chất bằng xương bằng thịt của chúng ta. Và
bước thứ ba nầy cũng chẳng có ǵ mới mẻ, ta sẽ giản dị quan
sát thêm cho sâu xa, rơ ràng, và thận trọng hơn trong hai bước
trước. Ta quán tưởng một cách phân biệt rơ ràng hơn về sự kiện
là ta có hai thân (Kàya). Liên tục, chẳng gián
đoạn, bạn hăy quan sát
điều đó trong khi thở vào và
thở ra.
Hành giả phải nên nhớ lại một cuộc quan sát mà
ta đă thể nghiệm trước
đây, nhớ lại sự kiện là hơi
thở là động lực tạo nên
điều kiện, gây ảnh hưởng đến tấm thân
xác thịt. Ta sẽ phân biện rơ giữa hai sự vật (thân và hơi
thở), nhưng ta lại gọi cả hai là thân, là kàya. Hơi
thở là một thân, với nghĩa, đó
là một sự tập họp, một nhóm. Thân thể chất cũng là một
thân, một kàya, v́ đó cũng
là một sự tập họp (nhiều cơ quan, bộ phận). Có hai nhóm,
hay là hai thân: một nhóm là hơi thở gây ảnh hưởng
đến nhóm kia là tấm thân thể
chất. Bạn hăy phân tách kinh nghiệm nầy
để thấy thật rơ ràng rằng hiện
có hai nhóm, hay hai thân. Và hăy xem cho rơ hai thân
đó đă ảnh hưởng lẫn nhau như
thế nào. Hăy quán tưởng đến chúng,
một cách càng ngày càng nhấn mạnh, cho
đến khi nào thấy
được thật hiển nhiên.
Khi nghe nói đến
từ ngữ "thân" (Kàya), xin bạn hăy hiểu từ ngữ
đó bao trùm ư nghĩa của chữ "nhóm".
Trong văn kinh thuộc Kinh điển hệ
Pali, Đức Phật dùng chữ kàya như vầy:
sabbakàyampatisamveti (thể nghiệm mọi thân) (...) Từ
ngữ nầy chẳng phải chỉ áp dụng riêng cho tấm thân vật chất của con
người mà thôi, lại c̣n ứng dụng vào các sự vật khác nữa. Thí dụ
như trong tiếng Pali, một đội quân
lính cũng là kàya, một kàya quân lính. Kàya, thân,
có nghĩa là một nhóm, một đống,
một tập hợp; xin đừng hiểu một cách hạn chế chữ ấy như chỉ là
một tấm thân xác thịt. Hơi thở được
gọi là thân, (Kàya) hoặc một nhóm. Muốn hiểu
được "thể nghiệm mọi thân"
là ǵ, ta cần phải biết nghĩa
đúng đắn của chữ "thân" rồi mới thấy
được cả hai nhóm, nhóm hơi thở và
nhóm thân thể.
Mục tiêu đặc biệt
của bước thứ ba nầy là ta phải biết rằng có hai nhóm
và một nhóm nầy lại nuôi dưỡng, hộ tŕ và tạo nên
điều kiện có ảnh hưởng đến nhóm kia.
Nhóm hơi thở nuôi dưỡng nhóm thân thể. Thật ra, ta đă có
kinh nghiệm về điều đó ngay từ khi
mới bắt đầu thực tập Quán tưởng Giác niệm về hơi thở (Ànàpànasati).
Trước đây, ta đă thể nghiệm
rằng khi hơi thở thô phù th́ thân thể trở nên trầm trệ và khi hơi
thở được tế nhị th́ thân thể
lắng dịu xuống. Ta đă quan sát
các sự kiện đó trong khi thực tập
bước thứ nhứt và bước thứ hai. Tại bước nầy,
ta đặt nặng sự quan tâm đến bí ẩn đó
cho đến khi nào nó trở thành rơ ràng tuyệt
đối. Có hai nhóm. Một nhóm nuôi dưỡng
và gây ảnh hưởng đến nhóm kia.
Bạn hăy biết rơ chỗ sai biệt giữa chúng.
Ba nghĩa của chữ Hành (sankhàra).
Chúng ta đang làm
một thí nghiệm nội tâm về hai thân
đó đang ảnh hưởng hỗ tương lẫn nhau.
Cái thân làm nguyên nhân gây ra
điều kiện có ảnh hưởng được gọi là
thân hành (kàya sankhàra),
để phân biệt với tấm thân kia, cái
thân đang chịu ảnh hưởng, đang nhận lấy các điều kiện, được gọi là
thân bị điều kiện hoá.
Bạn hăy nghiền ngẫm trong tâm sự kiện
đó, xem nó như một cái ǵ bằng vật chất có thể sờ mó, tiếp
xúc đến được. Bạn hăy thấy cho
thật rơ một nhóm nầy đang gây điều
kiện và điều dưỡng nhóm kia.
Bạn hăy thấy cho thật rơ cả hai cùng khởi lên một lượt,
cùng biến diệt một lượt, cùng trở nên thô phù một lượt, cùng trở
nên tế nhị một lượt, cùng tiến triển một cách thoải mái, và cùng
trở nên bất an cũng một lượt. Bạn hăy nhận thức cho rơ chúng liên
hệ thật mật thiết với nhau như thế nào.
Đấy là tất cả những ǵ cần
phải hiểu thật rơ về ư nghĩa của câu nói "thể nghiệm mọi thân".
Canh chừng cả hai thân và thấy rơ chúng
đang ảnh hưởng lẫn nhau. Điều nầy
thật là cần thiết để có thể
thấy được Chơn lư một cách quảng bác hơn, tức là, nhận thức
được đặc tánh vô ngă (anatta).
Khi quan sát đúng đắn mối tương quan
đó, ta thấy rơ những ǵ xảy ra chỉ giản dị là một tiến
tŕnh tự nhiên tạo nên ảnh hưởng. Chẳng hề có một tự ngă (atta)
nào, chẳng hề cái "Ta" nào, cũng chẳng hề có một cái ǵ thường
được gọi là "linh hồn" trong
đó cả. Sự thông hiểu nầy vô cùng
hữu ích, mặc dầu điều đó vượt hơi xa
đối với mục tiêu hiện tại của bước thực tập nầy.
Hiện giờ, ta chỉ cần thông hiểu về sự kiện tạo
điều kiên gây ảnh hưởng, vừa
đủ để ta có thể điều chỉnh
thân thể, tức là tấm thân xác thịt, xoa dịu
để lắng yên nó, bằng cách
điều chỉnh lấy thân hơi,
tức là cái nhóm hơi thở.
Tôi muốn nhơn cơ hội nầy bàn luận thêm về ba
nghĩa của chữ Hành (Sankhàra).
Đây là một danh từ hết sức
thông dụng và quan trọng trong Kinh
điển hệ Pali, nhưng có lắm người gặp khó khăn với chữ nầy, v́
nó được dùng
đến với nhiều nghĩa khác nhau. Ngôn
ngữ th́ thường là như thế, chẳng
được chắc chắn và ít
đáng tin cậy. Có mỗi một chữ
Hành, Sankhàra, mà có đến ba
nghĩa:
(1) nghĩa: tác viên gây
điều kiện, tức là nguyên
nhân đă tạo
điều kiện để gây ra ảnh hưởng;
(2) nghĩa: điều kiện, tức là t́nh trạng kết quả của
động tác đă gây ra ảnh hưởng;
(3) nghĩa: tác động của điều kiện,
tức là chính các động tác
trong tiến tŕnh tạo thành ảnh hưởng.
Ta có thể dùng chữ Hành, Sankhàra ấy
để nói đến vấn đề các điều kiện gây
thành ảnh hưởng, vừa chủ thể gây ảnh hưởng, vừa
đối tượng chịu ảnh hưởng và cả
cái động tác gây ra ảnh hưởng nữa.
Như thế th́ dễ cho các bạn lầm lẫn thật, nhưng xin bạn hăy
cứ nhớ chữ Sankhàra, Hành, có
đến ba nghĩa, và cái nghĩa
đúng của nó th́ c̣n tùy theo vị trí của nó trong khung cảnh
của bài văn. Kiến thức nầy rất có ích
cho sự nghiên cứu sau nầy của bạn.
Bạn hăy học tập về ba nghĩa
đó của chữ Hành ngay
trên tấm thân thể chất của bạn. Đâu
cần ǵ phải nghiên cứu trong sách vở, hoặc theo một
đường lối lư thuyết nào. Thân
thể nầy chính là một hành (sankhàra). Nó bị
điều kiện hoá bởi một số các nguyên
nhân và bởi các yếu tố đă tạo
nên nó. Do đó, thân thể nầy là
một hành, với nghĩa là một
điều kiện, một t́nh trạng chịu
điều kiện hoá. Khi thân thể nầy hiện hữu, nó chính là
nguyên nhân làm khởi sanh lên nhiều sự việc khác, như tư tưởng,
cảm thọ, và hành động. Nếu chẳng có
tấm thân nầy th́ các tư tưởng và hành
động chẳng thể nào hiện khởi
được. Do đó thân thể nầy là
một tác viên tạo điều kiện,
bởi vỉ chính nó đă gây nên
các động tác vừa nói. Sau cùng,
ngay trong tấm thân hành (sankhàra kàya) bằng xương
thịt nầy của chúng ta, hiện đang diễn
ra một tiến tŕnh điều kiện
hoá chẳng ngừng. Vậy ta có thể khám phá ra ba phương diện của
Hành (Sankhàra) ngay trong thân thể. Bạn hăy
nghiên cứu nghĩa của Hành theo cách bao quát hàm súc
đó. Rồi bạn sẽ thấy việc nhận thức về
Pháp (Dhamma) càng ngày càng thâm sâu hơn, sẽ
được dễ dàng và tiện lợi, khi
bạn tiến triển trên đường tu tập.
Thể nghiệm Hành (sankhàra).
Nơi bước thứ ba -- "thể nghiệm mọi thân",
thể nghiệm cả hơi thở và thân thể -- mỗi ư nghĩa trong ba nghĩa
vừa nói của chữ Hành, (Sankhàra)
được thực tập. Trước nhứt, ta quán
sát thân thể chất như một sự vật được điều kiện hoá bởi hơi thở.
Kế, ta xem hơi thở như một tác viên gây nên
điều kiện có ảnh hưởng đến thân thể.
Và sau chót là chúng ta quan sát cái tác
động điều kiện hoá luôn luôn xảy ra
cho cả hai, hơi thở và thân thể. Như thế, trong việc thực
tập bước thứ ba, ta thấy rơ
được cả ba: điều kiện, chủ thể gây điều kiện và
động tác tạo ra điều kiện. Sự điều
kiện hóa của thân thể là giai tầng vật lư của hành (sankhàra).
Ta c̣n chưa thấy việc nầy ở giai tầng tâm linh. Bước thứ ba
chính là việc làm để thấy được, ngay
trong nội tâm ta, đủ cả ba giai tầng đó khởi lên
đồng thời và liên tục. Rồi th́
ta sẽ thấy được mọi sự việc về
Hành, nhứt là khi nó liên quan
đến thân (Kàya) và các
động tác của thân ấy, ngay tại
bước thứ ba nầy.
Khi ta nghiên cứu kỹ lưỡng sự kiện
đó cho đến lúc thấy nó thật rơ
ràng, hiển nhiên và hiểu biết nó một cách phổ quát như
đă
được giải thích trên
đây, th́ ta mới có thể thể
nghiệm cùng một lúc cả ba sự kiện đó.
Ngay trong khoảng thời gian của một hơi thở vào hoặc hơi
thở ra, ta cũng có thể thể nghiệm cả ba sự kiện
đó "thẳng một lèo" trong một
hơi thở duy nhứt. Nếu ta có khả năng
làm được như thế, th́
ta đang "thể nghiệm trọn vẹn
thân hành (kayà sankhàra)" (tức là cái thân gây
điều kiện ảnh hưởng). Và như
thế, ta đă hoàn tất
được trọn vẹn bước thứ ba.
Cốt lơi của việc thực tập bước thứ ba là
để hiểu biết được có hai
thân (kàya) và biết cách
điều chỉnh một thân (kàya) nầy qua sự
điều chỉnh thân (kàya)
kia. Nói cách khác, ta có thể điều
chỉnh thân thể (tấm thân xương thịt) qua thân hơi
(hơi thở vào và ra). Một khi ta biết chắc về
điều nầy, một khi ta đă thấy
điều ấy rơ ràng rồi, một khi
ta đă tin chắc vào sự thể
nghiệm của ta về mỗi hơi thở vào, mỗi hơi thở ra, th́ ta
đă thành công trong việc thực
tập bước thứ ba nầy.
Bước thứ tư: Làm dịu hơi thở.
Sau khi đă
biết được rằng ta có thể điều chỉnh
thân thể bằng thân hơi, ta bắt đầu thực tập bước thứ tư
. Đức Phật mô tả bước
thứ tư nầy như là "làm dịu thân hành, passambhayam
kàyasankhàram". Ta có thể làm như thế
được, một khi đă biết rơ rằng,
khả dĩ dùng thân hơi để kiểm soát
thân thể.
Đầu đề của bước thứ tư là làm dịu
thân hành (Kàya sankhàra) trong khi thở vào và làm
dịu thân hành trong khi thở ra. Điều
đó có nghĩa là ta có thể làm cho thân hành (hơi thở) êm dịu
hơn, và êm dịu hơn nữa, cùng một lúc với khi ta hít vào và thở ra.
Đây là vấn
đề mà tôi sắp giải thích.
XIn hăy lưu ư đến
cách hành văn mô tả
bước thứ tư "làm dịu thân hành" là muốn nói
đến sự làm dịu thân hơi, làm
dịu các hơi thở ra và vào. Tại bước thứ tư, mục
đích của việc thực tập là
khiến hơi thở êm dịu lại. Ta làm cho hơi thở trở nên tế nhị và an
hoà bằng cách xử dụng các kỹ thuật có sẵn. Nếu ta làm êm dịu
được hơi thở, th́ sẽ có
được nhiều kết quả khá thích thú và
mạnh mẽ. Trước hết là thân thể trở nên thư giăn, êm ả và rất dễ
thương. Kế đó, một sự lắng yên
tâm tư lại khởi lên. Lại c̣n nhiều kết quả khác nữa, nhưng tôi xin
gát lại về sau sẽ nói đến. Bài
học tức thời hôm nay là làm êm dịu hơi thở. Biết cách
điều lư hơi thở là
điểm quan trọng nhứt cần phải cứu xét
trong việc thực tập bước thứ tư.
N ăm
kỹ thuật khéo.
Khi thực tập bước thứ tư, ta có các loại
phương pháp hay phương tiện -- ta c̣n có thể gọi chúng là các xảo
thuật nữa -- để xử dụng trong việc làm
êm dịu hơi thở. (...) Có tất cả năm
kỹ thuật khéo để làm hơi thở êm dịu lại và năm
kỹ thuật đó được xếp vào năm
giai đoạn:
1.- theo dơi hơi thở;
2.- canh giữ hơi thở ở một
điểm nào
đó;
3.- làm khởi lên một tâm ảnh (định
tướng, nimitta) tại
điểm đang canh giữ đó;
4.- vận dụng các h́nh ảnh
đó theo bất cứ cách nào cũng
được, cốt để ta có thể điều khiển,
kiểm soát chúng;
5.- chọn một trong các h́nh ảnh
đó và quán tưởng về nó một
cách thật chú tâm, cho đến khi hơi
thở trở nên thật sự êm dịu và an hoà.
Đây l à năm
kỹ thuật: theo dơi, canh giữ, khởi lên tâm ảnh, vận dụng
các tâm ảnh và chọn một tâm ảnh là
đối tượng đặc biệt của định lực (samàdhi) cho
đến khi nào có
được sự hoàn toàn êm dịu.
Về giai đoạn thứ
nhứt -- theo dơi hay đuổi theo
hơi thở -- ta đă làm ngay tự lúc mới bắt
đầu thực tập. Với các hơi thở dài
và hơi thở ngắn, ta nên săn đuổi theo,
hoặc theo dơi chúng. Nay, ta chỉ cần ôn và duyệt lại cho
đến khi nào ta trở nên thành
thạo, thuần thục trong việc theo dơi hơi thở. Chẳng cần phải giải
thích dài ḍng thêm, v́ ta đă
xét kỹ qua các bước thứ nhứ, thứ hai và thứ ba rồi.
Kỹ thuật thứ nh́ về sự canh giữ là chọn một
điểm trên lộ tŕnh của hơi thở
và canh chừng, hay là giữ ǵn hơi thở ngay chỗ
đó. Ta chẳng c̣n cần phải theo
dơi hơi thở nữa, nhưng kết quả cũng vẫn như là ta
đang theo dơi chúng vậy. Cái
tâm nầy (citta), cái giác niệm nầy (sati)chẳng
được rời đi chỗ nào khác, mà
phải trụ lại đúng vào
điểm đă chọn. Giác niệm ấy
canh chừng các hơi thở khi chúng vào và ra ngang qua
điểm ấy, và kết quả cũng giống
như sự theo dơi hơi thở, với một sự khác biệt là canh chừng th́ tế
nhị hơn.
Thông thường, ta dùng chót mũi làm
điểm canh chừng, v́ chính nơi
đó các hơi thở va chạm vào.
Điểm đó rất dễ giữ, ngoại trừ khi mũi
bạn quắm xuống, hoặc môi trên của bạn quá cao; trường hợp
nầy bạn sẽ cảm thấy hơi thở chạm vào môi trên.
Đối với mỗi chúng ta, điểm va chạm có
thể ở vào chỗ khác nhau, tùy theo h́nh dạng và cấu trúc của
mũi và môi.
Hăy t́m một chỗ nào dễ nhứt
để quan sát hơi thở. Kể cũng khó t́m
khi ta thở b́nh thường; bạn hăy thở một hơi dài và sâu và
điểm đó sẽ nổi bật lên hiển
nhiên. Điạ điểm cho thật đúng chính
xác cũng chẳng cần thiết, chỉ cần t́m ra
được một điểm nơi mà hơi thở
chạm vào chót mũi hay ở môi trên của bạn khi bạn cảm thấy hơi thở
di chuyển thật rơ ràng. Một khi bạn thấy ra
được rồi, hăy canh chừng
điểm đó mỗi khi hơi thở vào và
ra. Giác niệm (Sati) trụ tại
đấy và quán tưởng hơi thở khi
vào, khi ra. Hăy cứ thở vào, cứ thở ra b́nh thường với giác
niệm canh chừng tại điểm đó. Đấy
là giai đoạn hai, trong năm kỹ
thuật khéo của chúng ta.
Bạn có thể tự ḿnh quán sát thấy rằng khi bạn
chẳng màng ghi nhận hơi thở và cứ để
cho nó tự ra vào như ư nó, th́ nó sẽ gây ra chút cảm giác
nào đó. Vừa khi ta bắt đầu ghi nhận
nó, ngay cả khi chỉ giản dị theo dơi nó, hơi thở liền trở
nên tế nhị và êm dịu hơn. Hơi thở, tự nó, tự
điều chỉnh lấy và trở nên tế
nhị để gạt gẫm ta. Hơi thở "mưu mẹo"
mánh khoé như vậy đó. Rồi th́ ta ngừng chẳng
đuổi theo hơi thở nữa, chỉ canh chừng
tại điểm đặc biệt trên chót mũi, th́ bấy giờ hơi thở lại
càng lắng dịu xuống hơn nữa. Các bạn có thể kiểm chứng lại
điều nầy theo kinh nghiệm riêng
của các bạn.
Một tâm ảnh ( định
tướng) hiện lên.
Giờ đây, hơi thở
trở nên tế nhị và lắng dịu hơn nữa, khi ta tạo một tâm
ảnh (nimitta, định tướng)
tại chỗ điểm canh chừng. Tâm ảnh đó
chỉ là một h́nh ảnh tưởng tượng, chẳng hề có thật. Nó
được tâm (citta)
tạo nên. Đó là một sản phẩm
của tâm. Bạn có thể nhắm mắt lại và "nh́n"đến
nó; và khi mở mắt ra, bạn cũng vẫn c̣n "thấy" nó. Nó cũng
như một ảo ảnh của thị giác mà tâm đă
tạo ra để làm lắng dịu hơi thở.
Muốn làm được như thế, tâm phải tế
nhị. Hơi thở, hay bất cứ việc ǵ, cũng phải
được thanh lọc để có thể làm
khởi lên được một tâm ảnh. Hơi thở
phải trở nên càng tế nhị hơn, êm dịu hơn, cho
đến khi nào tâm ảnh
đă tạo xong.
Tâm ảnh có thể mang bất cứ h́nh thể nào, tùy
theo sự thích hợp với thân thể của mỗi người. Vài người tạo một
trái cầu -- đỏ, trắng, xanh hay bất
cứ màu nào. Nó cũng có thể là một ngọn lửa
đèn cầy, hoặc một cục bông g̣n,
hay một làn khói. Nó có thể xem giống như mặt trời, hoặc mặt trăng,
hay một v́ tinh tú. Khả năng
sáng tạo của tâm c̣n có thể gợi lên ngay cả h́nh ảnh của
một mạng nhện bóng loáng phản chiếu ánh mặt trời nữa. Các loại tâm
ảnh tùy thuộc vào người tạo nên nó. Tâm chỉ nghiêng về một hướng
nào đó và tâm ảnh tự nó liền
khởi lên. Nó thuần túy là một hiện tượng tâm linh chẳng có thực
thể vật chất. Và kỹ thuật khéo thứ ba
được hoàn tất khi nào ta đủ
khả năng tạo nên một tâm ảnh ngay tại
điểm canh chừng.
Giờ tới phiên kỹ thuật khéo thứ tư. Kỹ thuật
nầy là làm thay đổi hay vận dụng các
tâm ảnh theo ư ta muốn. Biến đổi h́nh nầy ra h́nh khác.
Biến đổi chúng theo cách nầy, theo
cách khác, theo bất cứ cách nào ta muốn.
Điều nầy có thể làm
được, v́ việc làm trước tiên
của tâm là tâm thường tạo luôn ra các h́nh ảnh. Do
đó, tâm có đủ khả năng để biến đổi
các h́nh ảnh, vận dụng chúng, và "chơi
đùa" với chúng. Tất cả những
việc đó đều có thể thi hành dễ
dàng v́ nằm trong khả năng của tâm. Và
đồng thời ta lại phát triển được khả
năng làm chủ được tâm, hướng
nó theo ngơ tế nhị hơn và hùng dũng hơn.
Ta có thể kiểm soát tâm nhiều hơn lúc trước và
cái tâm ấy (citta), tự nó, càng ngày càng
được thanh lọc và trở nên tế
nhị hơn. Nó lắng dịu xuống đến tận
mức mà ta có khả năng làm
cho nó êm dịu hoàn toàn. Giờ đây ta
chỉ cần kiểm soát các tâm ảnh, biến đổi chúng theo khuynh hướng
của tâm. Tùy theo khuynh hướng của tâm, ta thể nghiệm sự
thay đổi của các tâm ảnh để có thể
khiến cho hơi thở càng lúc càng trở nên êm dịu.
Điều nầy cũng chẳng khác hơn là
một mánh khoé, một xảo thuật. Tuy vậy,
đó là một xảo thuật tiến bộ
giúp ta nắm thêm quyền lực đối với
tâm. Rồi th́ hơi thở, tự nó, tự
động lắng dịu xuống. Hơi thở cần phải
lắng dịu hơn mới có thể vận dụng các tâm ảnh. Mặc dầu tâm cũng
lắng dịu xuống, nhưng sự nhấn mạnh hiện giờ là nhằm vào sự
lắng dịu của hơi thở. Vậy, kỹ thuật khéo thứ tư là kiểm soát các
tâm ảnh theo ư ta muốn.
Tâm ảnh cuối cùng .
Nếu ta muốn quán sát tiến tŕnh theo thứ tự,
của việc làm hơi thở trở nên êm dịu, ta phải coi chừng và thấy
rằng, khi ta huấn luyện theo cách
được mô tả ở đây, hơi thở tự nó tự thanh lọc lấy và lắng
dịu xuống một cách tự động. Khi ta
thực tập theo cách nầy, hơi thở sẽ trở nên êm dịu. Khi hơi
thở êm dịu th́ thân thể cũng tự động
êm dịu theo. Và khi thân thể đă
lắng dịu th́ có một hiệu quả ảnh hưởng
đến tâm tư. Tâm (citta)
lắng dịu theo chiều tỷ lệ thuận với sự lắng dịu của thân thể,
nhưng đây c̣n chưa phải là ư
định của chúng tôi ở điểm nầy. Sự
lắng dịu tâm tư sẽ được bàn luận
đến trong một bước sau
nầy. Hăy làm lắng dịu hơi thở và rồi thân thể sẽ lắng yên. Và cộng
thêm vài hiệu quả đến tâm tư nữa. Ta
có thể quan sát được tiến tŕnh lắng dịu
đó trong khi thực tập.
Kỹ thuật khéo thứ năm
là chọn một tâm ảnh (nimitta) nào thích nghi nhứt.
Ta chẳng biến đổi tâm ảnh đó nữa. Lựa
được một tâm ảnh vừa vặn và thích hợp, ta quán tưởng
đến nó với sự chú tâm hoàn
toàn, hầu có thể đạt đến tŕnh
độ đầy đủ của định lực
(samàdhi). Tôi khuyên bạn nên chọn một tâm ảnh nào êm dịu,
thư giăn và dễ để gom vào tiêu
điểm. Hăy chọn một tâm ảnh nào
chẳng làm khởi dậy tư tưởng hay t́nh cảm, một tâm ảnh nào chẳng
mang sẵn một ư nghĩa đặc biệt. Một
điểm trắng giản dị th́ cũng đủ
tốt rồi.
Loại tâm ảnh tốt nhứt là lọai trung hoà. Nếu ta
chọn một tâm ảnh màu mè, nó sẽ gợi lên nhiều tư tưởng và cảm thọ.
Với các tâm ảnh hấp dẫn, ngộ nghĩnh hay phiền phức th́ cũng như
thế. Vài người chọn h́nh ảnh của Đức
Phật để làm tâm ảnh (nimitta), nhưng họ sẽ bị lôi
kéo theo nhiều loại suy tư khác. Tư tưởng giản dị là
đi theo h́nh ảnh
được thấy, thay v́ cắm sâu
xuống vào sự lắng yên. V́ lẽ đó, ta
sẽ chọn một h́nh ảnh nào tự nhiên, chẳng có ư nghĩa
đặc biệt, chẳng gợi lên các
mối liên tưởng khác. Một điểm trắng là
thích hợp nhứt. Một điểm nhỏ ánh sáng
cũng phù hợp. Vài người chọn h́nh tượng của
Đức Phật, hoặc bất cứ h́nh ảnh
nào thấy hợp với sở thích của họ. C̣n chúng ta th́ không làm như
vậy; ta chọn môt điểm nào dễ
quán tưởng mà chẳng làm tư tưởng nào khởi sanh lên. Ta chọn một
h́nh ảnh như thế và gom tất cả tâm ư vào tiêu
điểm đó, để phát triển định lực của
tâm ư. Chú tâm nh́n vào tiêu
điểm giản dị đó. Tâm (citta) chẳng c̣n
đi lang thang nơi nào nữa, mà
qui chiếu vào một đ́ểm duy
nhứt. Vậy, kỹ thuật khéo thứ năm là
chú tâm quán tưởng vào một điểm.
Định lực ho àn toàn.
Và rồi ta chọn một tâm ảnh (nimitta)
thích hợp nhứt cho tâm để quán tưởng.
Đến điểm nầy, ta cần phải biết rằng tâm thường hay phân tán, trải
rộng ra và rọi chiếu ra ngoài về mọi hướng. Giờ
đây, ta cần phải quay lại vào
trong, gom tất cả luồng hướng ngoại
đó vào tiêu điểm. Danh từ Pali
gọi t́nh trạng gom tâm ư lại nầy là ekaggatà, tâm nhất
điểm, có nghĩa là "tại
đỉnh duy nhứt, tiêu diểm hay
là điểm cao tuyệt đích" Mọi sự việc
đều gom vào tiêu điểm duy nhứt.
Ta đă t́m thấy một tâm ảnh thích hợp nhứt -- một
điểm nhỏ ở giữa -- th́ giờ
đây tâm ư sẽ cắm sâu vào
điểm đó. Ḍng tâm linh gom về
một điểm đó cũng tựa như một tấm kính
lúp phóng đại gom các yến sáng của mặt trời hội tụ về một điểm duy
nhứt, mạnh mẽ cho đến mức làm phát cháy lên. Thí dụ nầy cho
thấy sức mạnh được tập trung lại khi
tất cả năng lực của tâm đều gom về một điểm. Một khi tâm chuyên
chú vào một đối tượng được lựa chọn,
th́ sự rạng rỡ của nó tập trung về nơi ấy và trở nên
ekaggatà, tâm nhất điểm --
qui về điểm duy nhứt, đến một đỉnh
cao duy nhứt.
Khi tâm đến t́nh
trạng tâm nhứt điểm,
th́ chẳng c̣n cảm thọ, tư tưởng hoặc
đối tượng nào khác của tâm nữa. Nơi
đây chỉ có các thiền chi
(jhànanga), tức là các yếu tố thiền
định. Ở t́nh trạng Sơ thiền,
có năm thiền chi. Ở t́nh trạng
nầy, tâm vẫn c̣n thô phù để thực hiện
nhiệm vụ quán tưởng đối tượng. Tâm đang ghi nhận đối tượng được
gọi tầm (vitakka). Tâm
đang thể nghiệm đối tượng đó gọi là
tứ (vicàra). Do nhờ có tầm (vitakka)
và tứ (vicàra), nên tâm trở nên thỏa măn và mừng
(piti). Và một khi có nỗi mừng (piti) ở
đó, th́ cũng sanh niềm vui
(sukha) cùng một lúc. Sau cùng, tâm nhứt
điểm lại tiếp tục như trước. Như thế,
tâm ở tŕnh độ định lực
(samàdhi) nầy có năm
yếu tố: ghi nhận (vitakka), thể nghiệm (vicàra),
nỗi mừng (piti) cùng niềm vui (sukha) và tâm nhứt
điểm (ekaggatà). Năm
yếu tố đó cho thấy tâm đang đi vào Sơ Thiền, t́nh
trạng thiền định hoàn toàn thứ
nhứt. Sự hay biết nầy chẳng bao trùm bất cứ sự suy tư nào,
nhưng cả năm hành vi
đó của tâm đều khởi sanh ra. Ta gọi
chúng là các thiền chi (Jhànanga) của
Thiền (Jhàna). Nếu ta có thể nhận diện
được các yếu tố đó đầy đủ hết, th́
ta có thể thoả măn vớí sự thể nghiệm
đă thành công v́ đạt đến
Định lực (Sanàdhi), mặc dầu c̣n ở giai
đoạn thứ nhứt, ở Sơ Thiền. Điều đó
xem như lạ lùng thật -- hoàn toàn, mà vẫn ở giai
đoạn đầu tiên.
Trên
đỉnh cao.
Tôi muốn nói kỹ thêm về từ ngữ Ekaggatà, tâm
nhứt điểm. Tiếng Pali
Ekaggatà nầy thường được dịch ra
là "tánh nhứt điểm" (one
pointedness). Dịch sát nghĩa từ chữ th́ Ekag là "có
một điểm duy nhứt" và Agga
là "đỉnh cao". Thái ngữ dịch là
yod. Chữ yod của Thái có thể chỉ vào cái ngọn,
đỉnh cao nhứt, đỉnh nhọn của một sự
vật ǵ như ngọn núi chẳng hạn, hoặc một kim tự tháp, hay là
đọt cây non nhô lên. Tôi chẳng
lấy làm chắc lắm chữ Anh "point" có
đồng một nghĩa hay không. Một điểm th́
có thể ở vào bất cứ nơi nào. Nó có thể lộ ra bên hông, hoặc ở thấp
bên dưới. Đây là lư do v́ sao
tiếng Pali dùng chữ Agga (đỉnh,
ngọn, thiên đỉnh).
Ekaggatà cũng như là chóp đỉnh
của ngọn kim tự tháp. Đâu có xứng đáng cho tâm gom vào một
điểm thấp ở bên dưới. Nó phải
được tập trung lại từ dưới thấp mà
vượt lên cao tận đỉnh. Đấy mới là
nghĩa đứng đắn của chữ
Ekaggatà.
Bạn chớ quá âu lo nếu tâm tập trung lại tại một
tiêu điểm nào chẳng
được cao nhứt. Đó chỉ là bước
đầu. Khi nào có Ekaggatà,
tâm nhứt điểm, th́ bắt
đầu có một việc thật là hữu
dụng. Khi nào có một chút tâm nhứt
điểm là khi đó có định
lực (samàdhi). Trong việc thực tập của chúng ta
về Quán tưởng Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati), ở bước
thứ tư nầy, cũng chẳng cần thiết phải
đi vào thiền
định hoàn toàn. Sự thực
tập Quán tưởng Giác niệm về Hơi thở c̣n chưa
đ̣i hỏi
đến các giai tầng thật tế nhị của
định lực. Ta chỉ cần có một cấp bậc vừa phải và thích hợp
về định lực để tiếp tục việc thực tập,
tức là, có khá đủ định lực
(samàdhi) để nhận
thức các cảm thọ mừng (piti) và vui (sukha)
Ta cần xử dụng nỗi mừng và niềm vui trong bước
thực tập kế tiếp. Nếu ta nhập vào các bực Thiền của cơi sắc
giới (rùpa jhàna) th́ rất tốt, v́
điều đó khiến cho các bước
thực tập về sau sẽ dễ dàng hơn. Nhưng ngay khi chưa
đạt đến Thiền, mà vẫn cảm nhận
được nỗi mừng (piti)
và niềm vui (sukha) th́ cũng là
đang thực tập tốt. Giờ đây, chẳng có
chi là quá khó, phải vậy không?
Khi các cảm thọ mừng và vui có
đủ sức mạnh để tâm thức cảm nhận
chúng thật rơ ràng, th́ đó là
có đầy đủ định lực để tiếp tục thực
tập bước thứ năm.
Nếu bạn nhập vào các bực Thiền, Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền
và Tứ thiền của cơi Thiền sắc giới (rùpa jhàna) th́
thật là tuyệt rồi!
Nhưng, có định
lực cần và đủ để thể
nghiệm được nỗi mừng (piti) và niềm vui
(sukha) một cách thật rơ ràng,
đó cũng là vừa
đủ cho bước thứ tư.
Cũng dễ, khi ...
Vài bạn ở đây thắc
mắc chẳng biết có khó hay dễ để thực tập. Đó là
điều mà tôi chẳng thể nào giải
đáp cho bạn được. Nhưng tôi có thể
nói, chẳng có chi khó khăn nếu phương pháp được ứng dụng một cách
đứng đắn. Nếu bạn đă lắng nghe cẩn thận, th́ bạn sẽ hiểu
cách thực tập thế nào cho đúng. Nếu
bạn tuân theo kỹ thuật đúng đắn, th́ chẳng có ǵ quá khó
đâu. Bạn có thể hoàn tất trong
một thời gian ngắn. Nếu bạn chẳng thực tập
đúng theo phương pháp, th́ sẽ
có nhiều khó khăn và có thể
chẳng bao giờ bạn hoàn tất được. Đối
với vài người, có thể là ba ngày; hoặc ba tuần
đối với người khác, hay là ba
tháng, hoặc ba năm, nào ai
biết được chắc?
Phần lớn các bạn c̣n ở giai
đoạn đầu, tập luyện về bước
thứ nhứt, nhưng điều đó chẳng có
nghĩa là các bạn ấy chẳng cần chú ư
đến các lời giảng dạy về
bước thứ tư nầy. Nếu bạn chẳng biết
được sẽ phải làm ǵ, th́ sẽ
vấp nhiều khó khăn khi gặp việc xảy
đến. Chúng tôi cống hiến các lời chỉ dẫn thật rơ ràng theo
sự cố gắng của chúng tôi, để các bạn
có thể hiểu được đường lối đúng đắn nhứt mà thực tập. Tuy
nhiên, nhiều người chẳng thích tập theo lời chỉ dẫn. Họ muốn pha
trộn tất cả vào các ư kiến và tư tưởng riêng của họ. Họ thích dồn
chung lại một cách hỗn tạp những điều
họ đă nghe được ở nơi nầy, đọc
thấy ở nơi kia. Bạn có thể làm theo cách bạn thích. Nhưng
nếu bạn muốn khiến cho việc thực tập nầy thành công và dễ dàng
nhứt cho bạn, th́ tôi khuyên bạn nên theo các lời chỉ dẫn
đă
được giải thích rơ ràng, hữu
hiệu và thành tựu về đường lối của kỹ
thuật nầy.
Thực tập theo đúng
phương pháp cũng chẳng quá khó. Chẳng theo đúng lời chỉ dẫn sẽ gặp
nhiều khó khăn. V́ lẽ đó, ta
cần học kỹ phương pháp đúng đắn và cách áp dụng như thế nào.
Rồi ta mới kỳ vọng vào các kết quả mong muốn. Ngoài việc
đó, cũng chẳng c̣n ǵ phải làm
thêm, ngoại trừ việc lập đi lập lại,
và lập đi lập lại các
bước cho đến khi trở thành
thuần thục như một chuyên viên. Hăy lập lại chúng cho
đến khi bạn có thể nhanh chóng làm
êm dịu được hơi thở và lắng
dịu thân tâm. Hăy thực tập cho đến
khi nào các bước đó
chẳng cần đ̣i hỏi cố gắng, nỗ lực ǵ cả, bạn trở nên nhuần
nhă trong các hoạt động đó.
Và cũng xin chớ quên! Ở mỗi bước, ở mỗi
giai đoạn và mỗi khoảng cách
giữa hai cuộc thực tập, ta vẫn phải ghi nhận các hơi thở vào và
các hơi thở ra. Đây là bối
cảnh và cơ bản của giác niệm (sati).
Đây là cách làm thế nào
để luôn luôn giữ tâm tuyệt đối trong
chánh niệm. Ghi nhận sự thở vào và ghi nhận sự thở ra ở mỗi
giai đoạn của việc thực tập. Rồi sự
thành công trong bộ bốn thứ nhứt của Giác niệm về
Hơi thở (Ànàpànasati) sẽ đến
với ta. Đây là bối cảnh lư thuyết của Giác niệm về Hơi thở
(Ànàpànasati) và cũng là các nguyên tắc hướng dẫn sự thực
tập đó.
Đă hết giờ. Xin chấm dứt buổi pháp thoại
ở đây.
-ooOoo-
Bài 4
Làm chủ các cảm thọ
Trong bài pháp thoại nầy, tôi xin nói về bộ
bốn thứ nh́ của Pháp Quán tưởng Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati).
Bốn bước trong bộ bốn nầy có liên quan
đến các cảm thọ, nên
được gọi là Vedanànupassànà,
sự Quán tưởng về các cảm thọ. Hai bước
đầu của bộ bốn nầy
lấy Hỉ, tức là nỗi mừng (ṕti) và Lạc,
tức là niềm vui (sukha) làm
đối tượng cho sự thâm cứu và
quan sát chi tiết.
Việc thực tập các bước mới nầy phát
triển dựa theo sự thực tập các bước trước. Một khi thân
hành, tức là hơi thở, đă
được lắng dịu, th́ các cảm thọ
mừng (ṕti) và vui (sukha) sẽ khởi
hiện. Rồi ta lấy ngay hai cảm thọ mừng và vui
đó làm
đối tượng, hay là chất liệu,
cho việc thực tập của chúng ta.
Nếu ta làm dịu
được thân hành (kàya sankhàra) tới mức
độ đạt đến Thiền định (Jhàna,
Sơ Thiền, Nhị Thiền v.v.) th́ Hỉ, nỗi mừng (ṕti)
và Lạc, niềm vui (sukha) trở nên
đầy và
đủ như hai yếu tố của Thiền, tức là
hai Thiền chi. Tuy nhiên, nếu ta c̣n chưa
đủ khả năng để nhập vào thiền
định, mà chỉ
đủ sức làm dịu thân hành
được một phần nào, th́
cũng có thể có được một mức độ về
mừng và vui nào
đó, tỷ lệ thuận với phần làm êm dịu
đó. Như thế, ngay cả đối với những ai
chưa đủ khả năng để vươn tới thiền định, cũng vẫn có thể xoay trở
hầu có đủ mừng và vui
để thực tập các bước
nầy.
Ngay đây, ta sẽ
nghiên cứu các đặc tánh và
ư nghĩa của mừng (ṕti) và vui (sukha).
Ṕti, Hỉ (= mừng, là sự bằng ḷng khởi lên do nhờ
thành công trong việc đạt đến định
lực (samàdhi) ở các bước trước,
đó có nghĩa là, ta
đă
đủ sức làm cho thân hành
(= hơi thở) được êm dịu
lại. Sự bằng ḷng, hay là sự thoả ư, khởi lên cùng với sự thành
công. Một khi đă có sự bằng
ḷng rồi, th́ bạn đâu c̣n cần
phải nghi ngờ ǵ nữa, sự hoan lạc (Lạc, vui, sukha) sẽ khởi
lên theo. Do có thoả ư mà hân hoan khởi lên.
Đấy là cách nên làm sao mà ta
có đủ được Hỉ (Ṕti,
mừng) và Lạc (sukha, vui )để
tiếp tục thực tập hai bước năm
và sáu.
Mừng (Hỉ) (Ṕti) chẳng
được
êm ả lắm.
Điều n ên quan sát tiếp theo là có nhiều
giai tầng ư nghĩa khác nhau nơi chữ Ṕti (Hỉ, Mừng),
như sự bằng ḷng, sự thoả măn, và sự ngây ngất. Bạn phải nên hiểu
biết rơ các giai tầng ấy của nỗi mừng (Ṕti, Hỉ)
được thể hiện ra dưới h́nh
thức khác nhau, hoặc có ít, hoặc có nhiều năng
lực trong đó. Đặc tánh quan trọng của Hỉ (Ṕti,
nỗi mừng) mà bạn cần lưu ư nhiều
đến là Hỉ (Mừng) chẳng
được êm ả cho lắm. Nơi cái
điều mà ta gọi là Hỉ (Piti,
mừng) đó có một loại kích thích,
hay xáo trộn. Chỉ khi nỗi mừng (ṕti)
đó trở thành niềm vui (sukha),
bấy giờ nó mới an tịnh lại. Nỗi mừng, hay là Hỉ (Ṕti)
có nhiều cấp độ, nhưng các cấp độ ấy
đều mang đặc tánh là gây kích thích, khiến cho tâm (citta)
bị giao động. C̣n Lạc, niềm
vui (sukha), đối ngược lại,
làm tâm trở nên êm dịu.
Đấy là điểm sai biệt giữa
Mừng và Vui, giữa Hỉ và Lạc,
giữa Ṕti và Sukha.
Giờ đây ta đă
sẵn sàng để thực tập bước
một và bước hai của bộ bốn thứ nh́ (2nd tetrad)
-- thể nghiệm Hỉ (Ṕti patisamvedi) -- có nghĩa là
ta quán tưởng Hỉ (= Piti = nỗi mừng),
mỗi khi ta thở vào và thở ra. Ta phải luôn luôn canh chừng cho
đến khi nỗi mừng (ṕti=
Hỉ) khởi lên vào lúc ta thành công trong việc làm êm dịu
thân hành (tức là hơi thở) lại. Bạn hăy khám phá xem cảm thọ
mừng đó ra như thế nào.
Hăy thể nghiệm nó trọn vẹn. Lấy nó làm
đối tượng quán tưởng mới cho tâm. Khi
quán tưởng nỗi mừng (Hỉ) đó, tâm (citta) sẽ bị thu
hút vào trong nó, cũng tựa như là tâm nhứt
điểm (Ekaggatà).
Tâm tư hoàn toàn thấm nhập vào đối
tượng duy nhứt là Hỉ (Ṕti, nỗi mừng).
Từ trước đến giờ,
ta đă quan sát một số đối
tượng như hơi thở dài, hơi thở ngắn, tất cả thân, và làm êm
dịu các thân. Giờ đây, ta chuyển sang
Hỉ, nỗi mừng (Ṕti). Cái Hỉ nầy có năng
lực khích động. Nó khiến cho tâm tư giao động, run rẩy, và
xúc động. (...) Khi bằng ḷng,
th́ bị kích thích ra sao? Khi thoả măn, sự kích
động lên
đến độ nào? Và lúc ngây ngất,
tâm tư bị sự kích thích tràn ngập tới
đâu? Hăy t́m quan sát cho kỹ
để, tự bạn, bạn khám phá ra được. Tâm tư chuyên chú vào
nỗi mừng (ṕti) và thể nghiệm nó trọn vẹn, mỗi khi ta
thở vào và mỗi khi ta thở ra. Đây là
cốt lơi của việc thực tập nơi bước thứ năm.
Nói cho gọn hơn nữa, mỗi khi ta thở là ta thể
nghiệm nỗi mừng (Ṕti, Hỉ). Thở vào và thở ra, thể
nghiệm trọn vẹn cảm thọ mừng (= bằng ḷng) và
đồng thời có sự hay biết về hơi thở vào
và về hơi thở ra. Khi thực tập bước nầy, một cảm giác thật
thích thú về an lạc sẽ khởi lên bên trong ta. Công việc
đang làm khá ngộ nghĩnh, và
cũng rất thích thú vậy. Xin bạn hăy cố tập thử bước thứ năm
nầy xem.
Nghiên cứu hương vị của hỉ (Ṕti,
mừng).
Mỗi lúc ta thở với sự thể nghiệm về nỗi mừng
(Ṕti = Hỉ), đó là
ta đang vừa nghiên cứu học và
đang vừa luyện tập. Lúc trước, ta
luyện tập và nghiên cứu trong khi thở dài hơi, thở ngắn hơi,
và các hơi kế tiếp. Giờ đây, ta nghiên
cứu và luyện tập ngay trong khi thể nghiệm nỗi mừng (Ṕti,
Hỉ) trong tâm tư. Mừng đó như thế
nào? Nó có nặng nề không? Nó có nhẹ nhàng không? Có thô phù
không? Nó tế nhị như thế nào? Đó là
điều mà ta gọi là "nếm hương
vị của Hỉ, của nỗi mừng (Ṕti)".
Đặc biệt phải nên biết rơ ảnh
hưởng của hương vị đó đến tâm tư,
hoặc đến các ư tưởng. Hăy nghiên cứu
để hiểu thấu được bản thể của
Hỉ, của nỗi mừng (Ṕti), cũng giống như cách
ta đă nghiên cứu trước
đây, cho đến khi nào ta hiểu
thật rơ ràng về bản thể của hơi thở trong việc thực tập về bộ
bốn thứ nhứt (1st tetrad). Đó là
cách thực tập về bước thứ năm
nầy.
Điều quan trọng nhứt cần phải nghi ên cứu
và quán sát là sức mạnh của nỗi mừng (Ṕti, Hỉ)
đă ảnh hưởng
đến tâm. Nỗi mừng đă ảnh hưởng
lên tâm và lên các ư tưởng như thế nào? Hăy quán sát thật cẩn thận
xem tâm như thế nào, khi Mừng chưa khởi lên. Một khi
Mừng đă khởi sanh lên, th́
tâm ra làm sao? Có hiệu lực như thế nào, khi mừng nhiều?
Tâm tư ra sao, khi mừng ít? Khi nỗi mừng quá mạnh,
như trong trường hợp ngất ngây, th́ tâm trạng bị ảnh hưởng kích
thích nhiều đến mức nào? Hăy
nghiên cứu h́nh thức thô phù, trung b́nh và tế nhị của một nỗi
mừng, để thấy cho rơ chỗ
chúng khác biệt nhau. Rồi xét xem ảnh hưởng của chúng lên tâm tư
khác nhau thế nào. Đây là
điểm then chốt của sự thực tập
bước thứ năm.
Sau chót, ta nhận
định ra được Hỉ, nỗi mừng (Ṕti)đă
kích thích tâm tư theo một cách thô phù. Hỉ (Ṕti)
chẳng có được cái hiệu lực thanh
lọc và tế nhị của Lạc (Sukha) mà ta sẽ xét
tiếp theo sau đây. Ngay tại
bước nầy, bạn phải nên biết rơ bản thể, sự kiện và bí ẩn
của hiện tượng được gọi là
Hỉ, là nỗi mừng, là Ṕti. Hăy quán sát mối tương
quan giữa nó với tâm tư, măi cho đến
khi nào bạn thật sự quen thuộc với sự thể nghiệm ấy.
Lạc (Sukha, niềm vui) làm dịu tâm tư.
Giờ đây, ta đi đến
bước thứ nh́ của bộ bốn thứ hai (2nd tetrad),
đúng ra là bước thứ sáu
nếu kể chung lại hết. Đây là
bước thể nghiệm Lạc (sukha patisamvedi) trong
đó ta sẽ quán tưởng lạc
(sukha, niềm vui), cùng với mỗi hơi thở vào và với mỗi hơi
thở ra. Hăy đặt tiêu
điểm của việc quan sát vào
Lạc, (Sukha, niềm vui) trên phương diện Lạc (Sukha,
niềm vui ) nầy là kết quả của nỗi mừng (Ṕti).
Khi Hỉ (Ṕti, nỗi mừng)
đă hết kích thích tâm tư (citta)theo cách thô phù
của nó, th́ nó giảm bớt năng lực. Nói
cách khác, Hỉ đó đă
lắng dịu lại, rồi biến thái để trở thành
Lạc (Sukha, niềm vui).Ta sẽ thấy cả hai cảm thọ
đó: nỗi mừng và niềm
vui, rất khác nhau. Cái niềm vui (tức là lạc, Sukha)
đó chẳng kích thích hay khích động
nữa, mà trái lại, nó làm cho lắng dịu và êm ả lại. Tại
đây, ta quán tưởng Lạc
(Sukha, niềm vui) như một tác viên khiến cho tâm (citta)
trở nên an tịnh. Thông thường, th́ Hỉ che mờ Lạc;
khi Hỉ đă phai nhạt th́
Lạc vẫn c̣n duy tŕ. Cảm thọ thô phù nhường chỗ cho cảm thọ
tế nhị. Bạn hăy nếm hương vị của Lạc, của niềm vui,
ngay trong mỗi hơi thở vào, ngay trong mỗi hơi thở ra.
Đây là cốt lơi của bước thứ
sáu.
Trong khi tâm tư
đang quán tưởng về Lạc, niềm vui (Sukha), ta
nghiên cứu và tập luyện cũng giống như ta
đă làm về hơi thở và về Hỉ,
nỗi mừng (Ṕti). Cảm thọ Lạc nhẹ nhàng như thế
nào? Nó có nặng nề không? Nó có thô phù không? Nó tế nhị như thế
nào? Cảm thọ Lạc đă
mang hương vị nào đến cho sự tỉnh
giác và sự thể nghiệm? Trong ngôn ngữ Thái và Pali, người
ta dùng động từ "uống"
để diễn tả sự thể nghiệm đó. Vậy, bạn
hăy uống, hăy nếm cái hương vị của Lạc,
của niềm vui đó, ngay
trong khi bạn thở vào và thở ra.
Đồng thời, cũng nghiên cứu bản
thể của nó và sự thật về nó.
Ta thấy rơ dễ dàng rằng, khi sức mạnh của Hỉ,
của nỗi mừng (Ṕti), khởi lên th́ hơi thở trở
nên thô phù. Khi ảnh hưởng của Lạc, của niềm vui (Sukha)
đă trở nên rơ rệt th́ hơi thở
lại lắng dịu xuống. Ta có thể nói ngay rằng, khi Hỉ bộc lộ
sức mạnh của nó ra, th́ tấm thân thể chất nầy trở nên thô phù. Lại
c̣n có ảnh hưởng của Hỉ đến
tâm (citta) nữa. Khi Hỉ (Ṕti) càng
mạnh bao nhiêu th́ nó khuấy động tâm
tư cũng mạnh đến chừng ấy, trong khi đó th́ ảnh hưởng của
Lạc (Sukha) là xoa dịu và làm thư giăn tâm tư (citta).
Cả hai cảm thọ: Hỉ và Lạc, nỗi mừng và niềm vui,
Piti và Sukha, trái ngược nhau như thế.
Đó là
điều mà bạn phải nên quán sát
cho thật kỹ khi gặp được cơ hội, tức
là, ở mỗi hơi thở vào và ở mỗi hơi thở ra.
Để tóm tắt lại, khi Hỉ (ṕti)
và Lạc (sukha) khởi lên, th́ chúng có ảnh hưởng
đến hơi thở. Cảm thọ nầy làm
hơi thở thô phù, c̣n cảm thọ kia làm hơi thở êm dịu. Chúng có ảnh
hưởng khác nhau lên trên tấm thân thể chất. Cảm thọ nầy làm thân
thể trở nên thô phù, trong khi đó cảm
thọ kia làm lắng dịu thân thể. Chúng lại có những ảnh hưởng
khác nhau đối với tâm tư. Cảm thọ nầy
kích thích tâm trong khi đó cảm thọ kia làm tâm an
định. Khi nào bạn nắm vững
được sự phân biệt đó, qua chính sự
thể nghiệm của bạn, chớ chẳng phải qua sự suy tư suông về điều ấy,
th́ bạn mới thật sự thành công trong việc thực tập bước
thứ sáu nầy.
Sau đây, có vài
sự khó khăn. Trong khi ta quán tưởng
về Lạc (sukha), th́ Hỉ (ṕti)
có thể lại xen vào. Hỉ khởi lên mạnh, khiến cho Lạc
phải biến mất đi. Do đó, ta cần phải
phát triển khả năng duy tŕ cảm thọ Lạc cho thật lâu
để ngăn ngừa chẳng cho cảm thọ
Hỉ bước vào. Hỉ mạnh mẽ hơn, và thô phù hơn Lạc.
Nếu có Hỉ xen vào th́ sự quán tưởng về Lạc bị làm hư
hỏng và sự an tịnh thật sự sẽ chẳng khởi lên. Ta phải nên cố gắng
đưa một nỗ lực "tuyệt kỹ" vào
trong sự quán tưởng để cho
Lạc chẳng bị phai nhạt đi.
Đừng để cho bất cứ cảm thọ nào khác xen
vào. Nơi bước nầy, có lẽ ta sẽ
được chan hoà trong niềm hoan lạc. Vi diệu thay khi thành
công trong việc thực tập bước thứ sáu nầy!
Thể nghiệm Tâm hành.
Giờ đây, ta đến
bước thứ bảy: "thể nghiệm tâm hành (cittasankhàra
patisamvedi)". Nếu ta đă
thực tập thành công cả sáu bước, th́ nay ta
đă biết rơ tất cả về các cảm
thọ Hỉ và Lạc (ṕti và sukha). Khi
Hỉ khởi lên, nó gây ảnh hưởng nào
đến Tâm (citta)? C̣n Lạc khởi lên, gây ảnh
hưởng nào đến Tâm? Loại ư tưởng nào
được Hỉ
điều kiện hoá? Loại ư tưởng nào
chịu ảnh hưởng của Lạc? Ta đă
ghi nhận và chiếu rọi thật kỹ lưỡng vào các tác dụng
đó kể từ bước thứ năm
và bước thứ sáu. Một khi
đến bước thứ bảy nầy,
cũng dễ cho ta nhận thức ra rằng: "Ồ! Hỉ và Lạc cũng
đều là các tâm hành." Các cảm
thọ nầy (vedanà) đều là
các tâm hành, cũng giống như cách mà các hơi thở
đều là các thân hành
vậy. Phương pháp quan sát và nghiên cứu ở
đây cũng chẳng khác với phương pháp ở
bước thứ ba.
Ta đă quan
sát thấy Hỉ th́ thô phù và bị kích thích, c̣n Lạc
th́ tế nhị và an hoà. Như thế, khi Hỉ
điều kiện hoá hoặc nhen nhúm lên
một ư tưởng, th́ ư tưởng ấy sẽ trở nên thô thiển. Mặt khác, khi
Lạc nhen nhúm một ư tưởng nào, th́ ư tưởng
đó lại êm dịu và yên ổn.
Đây là cách mà ta nhận thức ra
các cảm thọ (vedanà) đă
điều kiện hoá, đă gây ảnh
hưởng đến, các tư tưởng. Và ta
cũng nhận định được rằng, cảm thọ
điều kiện hoá cả hai loại tư tưởng thô và tế. Ta gọi tác
động đó là sự "diều kiện hoá
tâm trí".
Khi nỗi mừng, Hỉ, (Ṕti) mạnh mẽ
th́ nó tạo nên sự rung động trong
thân thể. Và khi nó trở nên thật mănh liệt th́ toàn thân có
thể nhảy nhót lên mừng rơn. Cảm thọ nầy thô phù và mạnh bạo. Mặt
khác, Lạc, niềm vui (Sukha) làm cho êm dịu, xoa nhẹ,
và thư giăn. Ta học được các đặc tánh
của chúng rất khác biệt nhau. Khi Hỉ ngự trị trong
tâm th́ chẳng thể nào nghĩ đến các tư
tưởng tế nhị được. Ta cảm thấy ngứa ngáy, lâm râm khắp châu thân,
khiến cho tóc lông phải dựng lên. V́ thế, ta cần phải có
đủ khả năng để kiểm soát Hỉ
(Ṕti). Đối lại,
Lạc (Sukha) lại có nhiều ưu
điểm. Nó đưa tới các tâm trạng tĩnh
lặng. Nó thúc đẩy các tư tưởng tế nhị, sâu xa và thanh tịnh.
Hai cảm thọ: nỗi mừng (Ṕti, Hỉ) và niềm vui
(Sukha, Lạc) dường như thể là kẻ thù của nhau, chống
đối nhau. Nhưng điều nầy chẳng quan
trọng cho lắm, v́ ta đă
biết cách điều chỉnh chúng được rồi.
Ta đủ khả năng để kiểm soát chúng bằng cách luyện tập theo phương
pháp mà ta đang thực tập đây.
Đây chỉ để thêm một chút hiểu biết rành rẽ, vừa
đủ về các tâm hành (citta
sankhàra) mà thôi.
Thân hữu và thù nhơn.
Mặc dầu vậy, ta vẫn cần nên quán sát và thông
hiểu thêm một bí ẩn khác nữa. Hai cảm thọ
đó phải cùng một lượt khởi lên;
có nghĩa là, nếu ta chẳng bằng ḷng, chẳng
được thỏa măn, th́ sự vui vẻ
chẳng khởi lên. Sự bằng ḷng tạo nên sự vui vẻ, sự hân hoan lại
khởi lên từ sự thoả măn. Sự bằng ḷng và sự thoả măn là nhóm hiện
tượng tâm linh mà ta gọi là Ṕti, Hỉ,
đó là nhóm cảm thọ kích
động thích thú. Mặc dầu sự vui vẻ và
sự hân hoan đều thuộc nhóm cảm thọ có
tánh cách xoa dịu, nhưng chúng chẳng thể sanh khởi khi vắng bóng
sự thoả măn. Bạn có thể quan sát
để thấy rơ, bất cứ trong một
biến cố nào có sự vui vẻ th́ trước đó
phải có sự thoả măn xảy ra. Hỉ (Ṕti)
đi dẫn đầu. Khi đang thể nghiệm sự thành
công, ta được thoả măn, bị
kích thích và bị giao động bởi sự thành
công đó. Một khi Hỉ
đă giảm bớt cường lực, khi tâm
tư đă bắt
đầu mệt chán với sự xao động và
kích thích đó, th́ Lạc
vẫn c̣n duy tŕ ở đó. T́nh cảm
lắng dịu xuống. Vậy, cả hai cảm thọ
đó đều là với thân hữu nhau, mà lại cùng chống
đối nhau. Chúng là thân hữu
với nhau, v́ chúng phải khởi lên một lượt: phải có sự bằng ḷng
trước rồi mới có được sự vui vẻ. Ta nên
thận trọng về điều nầy. Ta cần phải
ứng phó với chúng theo một đường lối tế nhị và thanh tịnh.
Đấy cũng như là một nghệ thuật
vậy. Một nghệ thuật tâm linh khéo léo
để kiểm soát Hỉ và Lạc (Ṕti và Sukha)
khiến chúng làm lợi ích cho đời ta.
Đó là điều bí ẩn về
Hỉ Lạc mà ta cần phải biết rơ.
Tới đây, ta khám
phá ra được rằng Hỉ (Ṕti) là kẻ thù của sự
quán tưởng (vipassanà), trong khi
đó th́ Lạc lại chẳng
như thế. Sự vui vẻ, hân hoan là thân hữu, ủng hộ cho sự quán tưởng
(vipassanà). "Vipassanà" có nghĩa là "thấy rơ ràng",
có đưọc sự hiểu biết trực tiếp thẳng
vào chơn lư của vô thường (aniccam, chẳng
thường c̣n), khổ sở (dukkham, bất toại nguyện) và
vô ngă (anatta, chẳng có tự ngă). Ta cần phải có một
tâm trí thật thanh tịnh để nhận thức
ra được vô thường, khổ sở và vô ngă (aniccam,
dukkham, và anatta), xuyên qua sự quán tưởng (vipassanà).
Nếu Hỉ (Ṕti) khởi lên, sự quán tưởng (vipassanà)
chẳng thể nào phát động được. Tâm trí
bị che mờ và trở nên giao động.
Cần phải vẹt bỏ Hỉ qua một bên, v́ nó là kẻ thù của
sự quán tưởng (vipassanà), là kẻ thù của cái nh́n trong
sáng và tế nhị của tâm. Trái lại, Lạc th́ chẳng như thế.
Lạc xoa dịu và lắng êm, nó khiến cho tâm tư trở linh hoạt và
sẵn sàng để quán tưởng. V́ lẽ
nầy, ta cần phải có khả năng điều
chỉnh Hỉ và Lạc.
Sau cùng, ta sẽ nhận thức rằng cả hai cảm thọ
Hỉ và Lạc (Ṕti và Sukha)
đều là những tâm hành.
Khi Hỉ điều kiện hoá tâm (tức
là gây ảnh hưởng đến tâm) th́
tâm (citta) trở nên thô phù và các tư tưởng cũng thô phù
theo. Khi Lạc điểu kiện hoá và
ủng hộ tâm, th́ tâm trở nên tế nhị và an tịnh, rồi các tư tưởng
trong tâm cũng tế nhị và an tịnh theo. Cả hai loại cảm thọ
đều có ảnh hưởng đến tâm (điều kiện
hoá), nhưng ở các khía cạnh khác nhau. Các cảm thọ (vedanà)
tạo nên điều kiện gây ảnh hưởng đến
tâm, v́ thế cho nên chúng được
gọi là các tâm hành (citta sankhàra.
Khi sự kiện vừa nói trên
đă
được ta khám phá ra, ta liền quán
tưởng đến nó trong tâm ta, theo mỗi hơi thở vào, ra. Thở
vào rồi thở ra với sự xác tín về sự kiện
đó. Đấy là công việc của sự
thực tập bước thứ bảy.
An tịnh các cảm thọ.
Bước thứ tám là làm "an tịnh các tâm
hành (passambhayam cittasankharam)" trong khi thở vào
và thở ra. Hăy làm cho các tâm hành, tức là các cảm thọ (vedanà)
trở nên êm diu và an hoà. Giảm bớt cường
độ của chúng trong khi thở vào
và hạ thấp năng lực của chúng trong
khi thở ra. Ta cần phải có đủ khả năng làm an tịnh các cảm
thọ, th́ ta mới có thể thể nghiệm
được điều đó mỗi khi thở vào và thở ra.
Có nhiều đường lối
làm giảm bớt cường độ của các
cảm thọ (vedanà). Hạ thấp năng
lực của chúng hoặc chấm dứt chúng hoàn toàn chẳng phải là
việc chẳng thể làm được. Có hai cách
để chúng ta xử dụng: (1) phương pháp Định lực (Samàdhi)
và (2) phương pháp Bát nhă (Panna).
Phương pháp
Định lực.
Sức xung động của
Hỉ (Ṕti) có thể
được làm êm dịu lại với phương pháp
định lực (samàdhi)
bằng cách phát triển t́nh trạng thiền
định lên một cấp cao hơn, để
loại bỏ Hỉ và Lạc (Ṕti và Sukha)
ra. Hiện nay có lẽ ta c̣n chưa đủ khả
năng để làm được như thế, bởi
v́ chúng ta vừa mới bắt đầu
thực tập. Tuy nhiên, vẫn có bí quyết
để gạt bỏ các cảm thọ đó bằng cách
đạt đến một giai tầng cao hơn của thiền định, như Tam thiền hoặc
Tứ thiền chẳng hạn. Nhưng, ta vẫn có thể vẹt Hỉ qua
được, bằng cách thay đổi tư tưởng của
ta. Hăy đưa vào tâm một
loại tư tưởng khác, để can thiệp và
loại trừ cái cảm thọ bằng ḷng (Hỉ)
đó. Cả hai cách, cách nào cũng
xử dụng đến năng lực của Định lực.
(...) Thông thường, chẳng cần phải gạt bỏ Lạc (Sukha)
ra. Đúng ra th́ ta cần giữ lại
Lạc để hỗ trợ cho sự thực tập
tiếp theo về sau. Ở đây, ta đặc biệt cần phải kiểm soát
Hỉ. Ta kiểm soát được
Hỉ với các kỹ thuật của Định lực,
hoặc bằng cách thay đổi đối tượng quán chiếu trong tâm, hoặc đạt
đến một t́nh trạng thiền định
cao hơn. Hai cách đó, cách nào cũng khiến cho Hỉ
lắng dịu xuống.
Ta có thể khẳng
định rằng, khi biết dùng ư nghĩa chơn thật của danh từ
định lực (Samàdhi)
th́ ta có thể đẩy Hỉ
lui ra xa. Ư nghĩa thật sự của danh từ Samàdhi,
định lực, là "đạt
tới tâm nhứt điểm
(Ekaggatà citta) với Niết-bàn (Nibbàna) làm
đối tượng". Chúng tôi có giải thích,
ekaggatà citta, tâm nhứt
điểm là t́nh trạng tâm tập trung lại, qui vào một
đỉnh tuyệt cao. Định lực
chơn thật lấy Nibbàna (Niệt bàn hay là
tịch diệt, santi), làm đối tượng.
Giờ đây, cái cảm thọ Hỉ
đó gây thêm rắc rối, xáo trộn
và khó khăn, th́ ta hăy
đuổi nó đi. Ta nhắm vào mục
tiêu là tâm nhứt điểm
với tịch diệt (santi) hay Niết-bàn (Nibbàna)
làm đối tượng. Cảm thọ Hỉ
tan biến đi v́ ta
đâu thèm
đến nó nữa. Đó là một phương
tiện khéo léo: dùng Định lực
để đẩy Hỉ lui ra xa.
Phương pháp bát nhă (trí huệ).
Giờ đây tới phương
pháp Bát nhă, để làm
giảm cường độ của Hỉ (Ṕti),
để xoá bỏ ảnh hưởng của Hỉ,
hoặc của Lạc, nếu muốn. Ta xử dụng Bát nhă (Panna)
nhận thức được bản thể chơn thật (đặc
điểm, tánh chất, điều kiện) của mọi sự vật do đấy mà Hỉ
khởi lên và nguyên nhân nào làm cho nó biến diệt. Hỉ
bộc phát lên, khi có điều kiện thoả ư
được thực hiện đúng đắn. Nó sẽ biến diệt đi, do sự khiếm khuyết
điều kiện đó, do v́ nhận thức
được nó chỉ là ảo giác, chớ chẳng phải là chơn thật. Một
khi ta thấy được rơ như thế,
cảm giác bị Hỉ khuấy động, và
sẽ từ từ mất dần.
Một phương pháp khác của Bát nhă là sự phân
biệt rơ ràng giữa vị ngọt (assàda) và nguy hiểm
(àd́nava) của Hỉ. Vị ngọt (Assàda) tức là
tánh chất hấp dẫn của một sự vật, vẻ duyên dáng ngon ngọt cám dỗ
của nó. Hỉ có hương vị kỳ diệu
đó. Nguy hiểm (Àd́nava) là khía cạnh tác hại
trừng phạt của sự vật. Nguy hiểm của Hỉ là việc nó kích
thích và khuấy rối, lại đẩy lùi
sự yên tịnh ra xa, đấy là
điều đă làm cho nó trở nên kẻ
thù của sự quán tưởng (vipassanà). Một khi ta
đă nhận biết rơ như thế, th́
Hỉ tan rả. Nếu ta thấy rơ được
sự khởi sanh, sự biến diệt, sự duyên dáng (vị ngọt), và sự
tác hại (nguy hiểm) của Hỉ, th́ nó tan rả và biến mất
đi. Đây là xua
đuổi Hỉ với kỹ thuật
của phương pháp Bát nhă.
Mỗi người trong chúng ta cần nên hiểu rơ ư
nghĩa của hai danh từ Assàda và Àđ́nava.
Nếu bạn nhớ được tiếng Pali, th́
có lẽ tốt hơn là lời dịch. Assàda là khía cạnh hấp dẫn,
thoả thích, đáng yêu, làm say
đắm, hay quyến rũ của một sự vật nào.
Àd́nava là khía cạnh thấp hèn hay tác hại của một sự vật.
Chẳng thể vịn vào cớ nào để cho hai
điều đó tới để phỉnh gạt ta. Một khi đă thấy rơ hai
điều đó rồi, th́ ta biết rằng,
thích thú một vật, hoặc say đắm yêu
mê nó, là một sự điên rồ tích
cực. C̣n đi oán ghét một sự vật lại là
một sự điên rồ tiêu cực. Nếu
đă hiểu biết rơ ràng cả hai
rằng chúng luôn luôn phỉnh gạt ta và dụ dỗ ta hoặc phải yêu mê
hoặc phải thù hận, th́ bài học rút ra ở chúng, là ta chớ có dễ dăi
trong hai việc thương và ghét, và nhờ
đó mà ta được giải thoát khỏi
ma lực của mọi sự vật. Thí dụ như tiền bạc có cả hai:vị
ngọt và nguy hiểm (Assàda và Àd́nava) th́ ta chớ
nên để nó lung lạc mà
đi lầm đường, hay là
điên cuồng theo
đuổi nó mải miết.
Thông hiểu cho thật
đầy đủ về cặp Assadà
với Àd́nava, tức là cặp vị ngọt và nguy hiểm,
là điều tạo nên sự an toàn
nhứt mà ta có thể biết được. Thấy
biết vị ngọt và nguy hiểm của Hỉ, bạn sẽ mệt chán
với Hỉ. Rồi nó tự bay đi mất.
Đấy là cách dùng Trí huệ Bát nhă
để đuổi Hỉ
đi xa. Ngay cả với Lạc
(Sukha), cũng chớ nên dễ dăi. Mặc dầu ta c̣n cần giữ lại
đôi chút Lạc v́ mục
đích hữu ích của nó, nhưng ta cũng
chớ nên để bị mất hướng v́
nó. Xin bạn hăy nhớ kỹ hai danh từ Assàda và Àd́nava
nầy trong suốt khoảng đời c̣n
lại của bạn. Chúng sẽ trở thành một thứ linh phù
để thật sự bảo vệ bạn, chớ chẳng hề làm
hại bạn.
Đến điểm nầy, tâm trí có thể điều chỉnh các cảm
thọ. Tâm trí đ ă phát triển
được khả năng làm chủ và tự kiểm khiến cho các cảm thọ hết
mong lôi kéo ta theo đường nầy lối nọ.
Cảm thọ Lạc, lạc thọ (sukha vedanà), tức là
cái cảm giác thích thú mà chúng ta
đang bàn luận đây, thường thu
hút tâm trí theo một hướng khả ái một cách tích cực. C̣n có
một loạt các cảm thọ khác tŕ níu ta vào
đường tiêu cực, theo một hướng
chẳng đáng cho ta mong muốn hay vừa
ư.
Chúng ta đă
bàn luận đến nhóm các lạc thọ, và
ta cũng nên biết rơ thêm về các cảm thọ
đau khổ, tức là nhóm các
khổ thọ (dukkha vedanà) nữa. Ta phải biết cách làm sao
ngăn chặn các cảm giác bất như ư và
sầu muộn đừng đẩy ta vào một
t́nh trạng khổ sở (dukkha). Các khổ thọ có thể bị ta
đánh bại theo phương pháp giống như
ta đă làm với Hỉ (Ṕti). Cho dầu là lạc thọ,
hay khổ thọ, ta cũng có thể kiểm soát chúng
được cả. Ta chế ngự được chúng cả,
chẳng trừ loại nào. Ta thực tập bằng cách
đưa bất cứ cảm thọ nào vào tâm
và thể nghiệm nó cho trọn vẹn. Rồi với trí huệ Bát nhă ta soi
chiếu nó để đuổi nó đi xa. Bạn hăy
thể nghiệm cái khả năng vứt bỏ được
bất cứ cảm thọ nào. Rồi ư thức rằng các cảm thọ chẳng c̣n
điều kiện hoá được tâm nữa. Hăy
diễn đi diễn lại kỹ thuật nầy với mỗi
hơi thở vào và mỗi hơi thở ra, cho
đến khi nào bạn trở nên thuần
thục thành một chuyên viên về vấn đề
nầy. Thế là, bạn đă
thành công trong việc thực tập bước thứ tám.
Sao lại quá bận tâm?
Một điểm chót là
vấn đề v́ sao ta lại quá bận
tâm luận bàn nhiều về các cảm thọ vậy? Tại sao lại thấy cần thiết
phải đưa các cảm thọ vào hàng
các công tác của sự thực tập? Sao lại chẳng bước ngay sang việc
quán tưởng (Vipassanà) để
đạt tới Niết-bàn (Nibbàna) càng sớm càng tốt? Lư do
là ta cần phải thông hiểu về các cảm thọ (vedanà) mới có
đủ khả năng để kiểm soát tâm trí
trong khi theo đuổi việc thực tập cho tới ngày thành tựu
được mục tiêu chánh yếu là
đạo quả Niết-bàn (magga
phala nibbàna).
Nhưng ta c̣n có một mục tiêu thứ yếu nữa.
Đó là, một khi
đă
điều chỉnh được các cảm thọ, có thể
ta đủ khả năng để giữ cuộc sống của ta theo con đường chơn chánh và
đứng đắn. Khi c̣n mê mờ về các
t́nh cảm, ta thường rơi vào ṿng nô lệ của chủ nghĩa duy vật mà ma
lực luôn luôn bủa vây ta vào lúc ta buông thả theo các lạc thú vật
chất, tức là các hương vị của các cảm thọ. Tất cả những
cuộc khủng hoảng trên thế giới đều
bắt nguồn từ nơi những người c̣n chưa hiểu rơ cảm thọ (vedanà),
và say mê yêu đắm các cảm thọ. T́nh
cảm đă thúc
đẩy ta hành
động như thế đó, để đưa đến các sự
bất hoà, tranh chấp, chống đối
và cả chiến tranh nữa. Đôi khi
chúng c̣n đưa đến cả các trận
thế chiến. Tất cả chỉ v́ con người thất bại trong việc
đương đầu với sự phỉnh gạt của cảm
thọ (vedanà).
Giờ đây, chắc các
bạn đă nhận thức được rằng cần
phải thông hiểu các cảm thọ. Ta phải biết các điều bí ẩn về chúng
và vận dụng được sự điều chỉnh
lấy chúng, nếu muốn cho thế giới nầy hoà b́nh. Cần chi nói
đến việc chứng đắc Niết-bàn (Nibbàna)
cho quá cao xa; ngay tại đây, sống an
hoà trong nội tâm và sống hoà b́nh với
đồng loại trên hành tinh nầy
đă
đ̣i hỏi mọi người phải
đủ khả năng làm chủ các t́nh
cảm ḿnh, đấy là
điều mà giờ
đây chúng ta vẫn c̣n chưa biết
cách khéo làm. Tôi hi vọng tất cả các bạn sẽ tiếp tục khai thác
lợi lạc của khả năng đó suốt khoảng
đời c̣n lại của các bạn. Bộ bốn nầy sở dĩ
được đưa vào sự thực tập Quán
tưởng Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati) là v́ tầm quan
trọng rộng răi và mănh lực to tát của các cảm thọ (Vedanà).
Trên đây là
bộ bốn thứ nh́ (2nd tetrad) trong Pháp Quán tưởng
Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati).
Xin chấm dứt bài pháp thoại tại
đây, v́ hết giờ.
-ooOoo-
Bài 5
Quán tưởng Tâm
Hôm nay, chúng ta sẽ nghiên cứu bộ bốn thứ
ba của Pháp Quán tưởng về Hơi thở (Ànàpànasati), có
liên quan đến Tâm (citta).
Bộ bốn nầy được gọi là
Cittanupassanà, Quán tưởng về Tâm. Xin hăy chuẩn bị tinh
thần để học tập về Tâm.
Trước khi đi sâu vào
bộ bốn thứ ba nầy, có một điểm
rất quan trọng mà chúng ta thường quên, ít nhấn mạnh
đến. Mỗi khi bạn ngồi xuống để thực
tập Quán tưởng Giác niệm về Hơi thở (Ànapànasati) --
mỗi khi bạn bắt đầu bất cứ buổi thực
tập nào -- bạn cần phải bắt
đầu bằng bước thứ nhứt, tức là sự thể nghiệm về hơi
thở dài. Cho dầu hôm qua bạn tập đến
bước nào đi nữa, hôm
nay bạn cũng phải bắt đầu lại ngay tại chỗ phải khởi đầu. Mỗi buổi
tập là một buổi mới. Từ hơi thở dài, bạn sang hơi thở ngắn,
và cứ liên tiếp như thế, bạn bước từng bước qua bước kế, hoàn tất
đầy đủ mỗi bước, trước khi tiến lên
nữa, cho đến khi nào bạn tới
cái bước bỏ dở ngày hôm qua. Mỗi bước tuỳ thuộc vào
bước trước. Nếu bạn c̣n chưa
đủ khả năng để thực hiện bước thứ nhứt, th́ chẳng
thể nào bạn có thể tiếp tục việc thực tập xa hơn nữa. Ngay bây giờ,
mặc dầu chúng ta đang có ư định thực
hiện việc quán tưởng tâm (cittanupassanà),
chúng ta cũng phải bắt đầu ngay tại
bước thứ nhứt. Điều nầy
cũng đúng với tất cả mười sáu bước thực tập. Với hơi
thở vào, với hơi thở ra, ta thực tập luôn luôn như thế. Xin nhớ,
ta phải bắt đầu bất cứ buổi thực tập
nào cũng bằng bước thứ nhứt.
Sau khi thực tập thành công hai bộ bốn thứ
nhứt và thứ hai, ta bắt tay vào việc với bộ bốn thứ ba
nầy, là sự Quán tưởng Tâm (cittanupassanà). Bước thứ
nhứt của bộ bốn nầy là quán tưởng, hay là thể nghiệm,
tâm dưới mọi khía cạnh của nó. Điều
nầy được gọi là citta patisamvedi, sự thể nghiệm về mọi
t́nh trạng của tâm (= các tâm trạng) vào mọi thời. Kể
từ khi mới bắt đầu thực tập, cho đến
điểm nầy, nhiều tâm trạng đă khởi sanh lên. Nay, chúng ta
phải quán sát mỗi tâm trạng ở mỗi bước. Hiện trạng của tâm
ra sao? Nó thay đổi như thế nào?
Điều ǵ
đă khởi lên trong tâm? Tâm có
những đặc tánh ǵ vào lúc nầy?
Trong các bước trước, ta nhấn mạnh
đến những hiện tượng, những sự kiện,
tâm linh nào, mà tâm đang biết
đến, hay là đang thể nghiệm.
Giờ đây, ta sẵn sàng để quan
sát đến chính cái tâm. Ta phải tiếp tục quán sát
để biết trực tiếp được tâm
ra như thế nào vào lúc ấy. Ta thể nghiệm
được những ǵ? Bước thứ
chín nầy bắt đầu thể nghiệm tâm
xuyên qua mỗi phút giây của sự thực tập.
Nhiễm dơ hay không?
Có nhiều đặc tánh
của tâm cần được quán sát ở đây, và tất cả các
đặc tánh đó, tự chúng, phải hiện ra
một cách tự nhiên. Chúng được
ta quán sát đúng như chúng đang là như thế, vào
đúng thời gian mà chúng
đang hiện hữu. Đặc tánh cần phải được
ghi nhận là, như nói theo cách cổ truyền trong Kinh
điển, là "tâm có bị nhiễm
dơ không, tức là, trong tâm có tham (ràga)
hay không?" Các bạn đều biết
tham là ǵ, tham mê sắc dục cũng là một thứ tham.
Nghĩa của chữ tham rất rộng. Tham tiền bạc, nữ trang, thực
phẩm, nhà cửa và tài sản cũng đều là
tham cả. Cũng có thể là sự tham luyến về một cá nhân nào (chẳng
phải là v́ sắc dục) như một người làm công hay tôi tớ chẳng hạn.
Tâm có nhiểm các loại tham luyến như thế không, vào lúc nầy,
hay là nó chẳng vướng đến? Nếu có
tham đang hiện diện ở
đây, th́ quán sát kỹ nó để
phân biệt ra nó thuộc vào loại nào. Hăy biết rơ khi tâm
tham th́ như thế nào? Nếu vắng bóng sự tham th́ hăy
quán sát việc vắng bóng đó của nó.
Thở vào rồi thở ra, trong khi
đó, thể nghiệm tâm trạng thực sự lúc bấy giờ của tâm.
Đặc tánh kế tiếp của tâm cần được quán sát là
sân, (dosa) tức là sự giận, sự hờn, sự thù
nghịch, sự hiềm hận. Nghĩa của chữ sân cũng rất rộng.
Đôi khi một vật bên ngoài, một
người, một t́nh trạng, hoặc bất cứ sự việc ǵ, cũng có thể làm ta
giận. Mọi sự cau có, khó chịu của tâm cũng là sân.
Sân cũng nổi lên ngay cả đối với
một sự việc ở bên trong nội tâm. Khi tâm trở nên bị
đè nén, kích thích, va chạm,
chua cay, tâm đó được gọi là
tâm sân. Ta quán sát tâm
để xem tâm
đó có sân cùng không. Nếu tâm
đang sân, hăy quán sát, hay
biết và hiểu rơ rằng tâm trạng đó là
tâm sân. Nếu tâm chẳng giận hay hờn, th́ cũng phải
biết rơ rằng nơi tâm lúc ấy chẳng có sân.
Đây là
đặc điểm thứ hai mà ta cần
quán sát rơ.
Đặc tánh thứ ba cần được quán sát l à sự
si mê (moha)(sự mê mờ, lầm lẫn). Sự si mê
biểu hiện bằng sự say đắm vào
một sự vật ǵ mà c̣n chưa biết rơ thực sự nó như thế nào. Thí dụ
như, khi ta đang nghi điều ǵ,
ta chẳng thể nào chẳng nghĩ đến điều
ấy. Và khi có ước mong hay kỳ vọng nào, ta cũng chẳng thể
nào tránh được sự trụ tâm vào
điều đó. Sự si mê có
thể có nghĩa là đang bị "lạc lối bơ
vơ" hoặc "mờ mịt tăm tối", tức là, bị sự nghi ngờ và ngu
tối làm tràn ngập. Rồi th́, ư kiến nầy hay ư kiến nọ, phát xuất từ
sự nghi ngờ hay sự ngu tối, khởi lên trong tâm.
Đó là
đ́ều
được gọi là si mê. Ta
cần phải biết rơ trong tâm ta hiện có, hay chẳng có, sự si mê. Nếu
có si mê, th́ hăy nắm ngay lấy nó và quán sát kỹ nó. C̣n nếu tâm
vắng bóng sự si mê, th́ hăy quát sát sự khiếm khuyết của si mê.
Luôn luôn quán tưởng tâm trạng đó
trong khi thở vào và trong khi thở ra.
Đây là
đặc điểm thứ ba cần phải quán sát.
Có một cách giản dị
để phân biệt ba tâm trạng:
tham, sân, và si (ràga, dosa, và moha).
Nếu đang có một cảm tưởng muốn cần
đến, tức là muốn gom về, kéo lại, ôm chầm lấy và nắm chặt,
cảm tưởng ấy là tham (ràga). Tham có tính
cách tích cực. Sân th́ chẳng thích, chẳng muốn. Sân
có tính cách tiêu cực. Sân đẩy
ra xa, muốn đập phá bỏ, ngay cả muốn giết chết nữa. Trong khi
tham th́ muốn kéo về, sân lại tống
đi. Thứ ba là si, tức
là si mê, ngu tối. Si chẳng phân biệt
được sự thật: phải trái, thiện ác.
Si th́ cứ chạy ṿng ṿng. Và
đây là chỗ khác nhau giữa ba
tâm sở tham, sân, si: một th́ gom về cho ḿnh, hai th́
đẩy ra xa, ba th́ chạy lẩn
quẩn. Mọi người ai cũng có thể quan sát
được sự khác biệt giữa các hành
vi của chúng: lôi về, đẩy đi, và
chạy ḷng ṿng.
Kế đến là
t́m biết tâm có bị xao lảng hay không. Các bạn
đă
được nghe đến danh từ nầy nơi
tâm nhứt điểm rồi. Tâm
bị xao lảng chẳng phải là tâm nhứt
điểm. Nó bị phân tán ra khắp nơi. Nó chẳng
đủ khả năng để ở yên và thư
giăn. Nó chẳng có sự tĩnh lặng, chẳng có sự an trụ. Hơn nữa, sự
xao lăng khiến tâm bị phiền muộn, bị khuấy rối, tức là mất sự an
nhiên. Tâm có bị xao lảng không? Hay tâm
đang ở trong trạng thái b́nh
thường, chẳng bị lơ đễnh? Hăy
quán sát kỹ đặc điểm của tâm trạng
nầy với hơi thở vào và hơi thở ra. Thực tập
để hiểu biết kỹ điều đó, để có thể
phân biệt rơ các loại tâm.
B́nh thường hay phấn khởi?
Hai tâm trạng kế tiếp cần phải quán sát là khi
có được một tâm trạng tốt đẹp hơn tâm
trạng b́nh thường: một tâm trạng tốt, và một tâm trạng
thông thường. Tiếng Pali gọi tâm trạng tốt nầy là một tâm trạng
cao quí, vĩ đại, mahàggatà.
Nếu nói theo ngôn ngữ hằng ngày, ta sẽ nói
đó một sự hay biết rằng ḿnh
đang có một tâm trạng khá hơn, đáng
vừa ư hơn, cao hơn là vào những ngày thường. Tâm ta hiện
đang có ư thức về điều đó hay chăng?
Nếu có, hăy quán sát ngay điều
đó. Nếu không, hăy biết rằng tâm ta hiện
đang trong trạng thái b́nh
thường, vào lúc nầy. Hăy quán tưởng
đôi tâm trạng đó trong khi thở vào và trong khi thở ra.
Hai tâm trạng cần quán sát tiếp theo là khi có
được một tâm trạng tuyệt đỉnh, vô
thượng, chẳng có ǵ cao hơn
được nữa, với một tâm trạng c̣n có thể vượt lên cao hơn.
Nói cách khác là khi tâm ta đang thành
tựu được một t́nh trạng cao cả
nhứt mà chẳng có ǵ cao xa hơn, tốt
đẹp hơn nữa. Nhưng tâm ta hiện c̣n
đang phải cố gắng lắm mới đạt đến mức
tuyệt đỉnh đó. Và điều khó
khăn cho chúng ta là, một tâm trạng tuyệt
đỉnh như thế, cao quí như thế, phát
triển đầy đủ như thế, chỉ có bực A la hán (Arahant,
bực giác ngộ và giải thoát hoàn toàn) mới có
được. Nếu ta chưa đạt được quả vị A
la hán, th́ nói theo lẽ thông thường là, ḷng ta
đang rất ư vừa ư, hay là
đang cảm thấy vẫn có một việc ǵ
cao cả hơn nữa c̣n chưa làm được? Có
phải là ta đang cảm thấy vừa
thực hiện được một điều ǵ thật măn nguyện hoàn toàn rồi chăng?
Hay ta c̣n đang cảm thấy cần
phải làm thêm điều ǵ
hơn thế nữa? Hai tâm trạng nầy mô tả tâm trong t́nh trạng
đă có, hay chưa có, làm một
điều ǵ cao quí. Hăy quan sát
kỹ tâm trong trạng thái cao quí nhứt
đó, quán tưởng nó càng lúc càng rơ rệt,
để hiểu được h́nh thức của tâm
trạng đó. Thở vào và thở ra
cùng với ư thức biết rơ như thế.
Hai tâm trạng thứ ba cần phải quan sát là khi
tâm có tập trung lại, hay chưa gom ư lại.
Đó có phải là
định lực hay chưa có định lực (samàdhi).
Hăy tập trung tâm ư lại. Cho dầu chưa hẳn hoàn toàn
đó là
định lực, th́ ảnh hưởng của sự
cố gắng cũng đă khiến cho tâm
tập trung lại được. Như thế, cũng tạm
gọi là một định tâm. Bạn hăy
quan sát kỹ hai t́nh trạng của tâm, trước và sau khi cố gắng tập
trung tâm ư lại. Thở vào và thở ra với ư thức rơ rệt về hai t́nh
trạng đó.
Hai tâm trạng chót cần phải quán sát là khi tâm
được giải thoát hay chưa được giải
thoát, nghĩa là c̣n có các sự ràng buộc (upàdàna),
tâm đang cố bấu niú hay là
đang bám chặt vào việc ǵ nên
chưa được giải thoát. Tâm đang bám
chặt hoặc chẳng đang bám chặt? Đó là
điều mà tôi muốn nói khi hỏi
rằng tâm có được giải thoát hay chưa
được giải thoát. Ngay bây giờ, có điều ǵ
đang cản trở tâm, hay là tâm
đang được tự do? Trong trường hợp nào,
bạn cũng nên t́m hiểu cả hai cho rơ ràng. Thở vào và thở ra với ư
thức rơ rệt về điều đó. Hăy
phân biệt giữa chúng đến mức thật rơ
ràng, đứng đắn.
Ta biết
được ta.
Nhờ thực tập như trên
đây, ta biết được rơ về ta,
biết rơ được những tư tưởng nào
là loại tư tưởng đặc trưng cho ta.
Rồi đó, ta sẽ hiểu biết rơ
được về ta. Tâm trạng nào thường thấy nơi ta? Thông thường,
tư tưởng trong tâm hay có khuynh hướng chạy theo một
đối tượng nào
đó. Nhờ quán sát các khuynh hướng đó,
ta sẽ biết rơ ta hơn. Đây là
một lợi lạc đặc biệt của
bước thực tập nầy. Mục đích trực
tiếp của ta, tuy nhiên, là để
biết tâm ta cho thật rơ ràng và thật
đầy đủ. Thông hiểu tâm ta một cách
cặn kẽ là lợi lạc đặc biệt của
bước nầy. Đấy là
những ǵ cần thực tập trong bước thứ nhứt của bộ bốn thứ ba
nầy, tức là bước thứ chín trong toàn bộ Pháp Quán tưởng
Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati).
Làm cho tâm sảng khoái.
Giờ ta tới bước thứ hai trong bộ bốn
thứ ba, làm cho tâm được sảng
khoái (abhippamodayam cittam). Từ buổi
đầu, ta đă thực tập nhiều cách
để kiểm soát soát tâm, đặc biệt nhứt
là trong bộ bốn thứ nh́, tâm phát triển
được khả năng tự chủ đối với các cảm
thọ và có thể kiểm soát được
chúng. Điều nầy có nghĩa là đă
tiến gần đến với t́nh trạng
khuất phục được tâm, kiểm soát được
tâm. Một khi ta đă biết rơ tất cả mọi loại tâm sở và t́nh
trạng của chúng một cách thật đầy đủ
rồi, cả tích cực và tiêu cực, th́ ta có thể
đặt tâm vào một t́nh trạng
thích hợp, hay đáng mong muốn.
Bước thứ mười nầy chính là việc thực tập
để khiến cho tâm trở nên vừa
ḷng, vui sướng và sảng khoái đó. Có
nhiều tiếng để nói đến t́nh trạng
đó: bằng ḷng, vui thích, hân
hoan, hay bất cứ tiếng nào mà ta muốn dùng
đến. Nhưng điều quan trọng là
có đủ khả năng để kiểm soát tâm để
cho tâm cảm thấy hài ḷng và vui thích khi ta thở vào và
thở ra.
Mỗi khi tâm cảm thấy buồn chán, sầu năo, chẳng
thiết đến ǵ vui, ta có thể
xua đuổi phiền năo
đó đi và
đưa đến một tâm trạng vui vẻ. Hoặc là,
ngay cả khi tâm ở trong t́nh trạng b́nh thường, ta cũng có thể làm
cho nó vui lên, sảng khoái lên, với kỹ thuật nầy.
Đây là một
điều rất có ích lợi. Ta đâu cần phải
chịu đựng lâu dài một tâm trạng
đau buồn, bởi v́ ta có thể
kiểm soát được tâm ta. Mỗi khi cần
đến, ta có đủ năng lực để làm bất cứ
điều ǵ ta cần phải làm về
phương diện tâm linh. Ta có thể vui lên bất cứ lúc nào. Nhưng xin
hăy thận trọng, hai tiếng vui thích và sảng khoái
đều mang hai loại ư nghĩa khác nhau.
Có loại vui thích và sảng khoái tầm thường, trần tục, dựa
trên vật chất và nhục cảm. Tuy đó
cũng là một loại vui thích và sảng khoái, nhưng
đấy chẳng phải là loại mà ta
chú trọng đến. Chúng tôi đ̣i
hỏi sự vui thích do Chánh Pháp (Dhamma) mang
đến, do thông hiểu Chánh Pháp, và
biết cách ứng dụng Chánh Pháp. Ta đâu
cần lệ thuộc vào vật chất và nhục cảm
để kích thích chúng ta, ta đă
có Chánh Pháp giúp tâm ta được sảng
khoái. Như thế, có hai loại vui thích: sự vui thích bị ô nhiễm và
sự vui thích thanh cao, chẳng vướng vào các cấu nhiễm (kilesa,
lậu hoặc). Cả hai loại đều sẵn có
đấy cho ta tiện dụng. Nếu bạn muốn có loại vui thích ô nhiễm, th́
rất dễ để đạt được nó. C̣n vui
thích về Chánh Pháp (Dhamma) th́ cần phải
đi t́m thật
đứng đắn mới gặp được. V́ lẽ
nầy, xin nghiên cứu thật kỹ điều nầy
cho tường tận.
Sảng khoái v́ Chánh Pháp (Dhamma)
Kể cũng dễ để làm
cho tâm trở nên sảng khoái, một khi ta hiểu
được nguyên nhân của sự vui
thích. Sự vui thích bắt nguồn từ cảm giác thành công, v́ vừa thành
tựu được một hành vi
đứng đắn và
đáng khích lệ. Một cách dễ dàng,
để làm tâm sảng khoái lên, là
quay lại thực tập bước thứ nhứt, thứ hai và thứ ba
một lần nữa. Hăy quay lại các bước
đầu và thực tập một cách thành công. Rồi th́ sẽ có sự
bằng ḷng và vui thích với mỗi bước.
Đây là sự vui thích có liên
quan mật thiết với Chánh Pháp (Dhamma). Chúng ta hăy quay về thực
tập lại bước một, lần nữa, nhưng lần nầy th́
đặc biệt đặt tiêu
điểm vào cảm giác thành công,
bằng ḷng, vui thích và sảng khoái. Hăy tiến tập như thế qua mỗi
bước, giống cách như thế, măi cho tới lúc
đến với niềm vui thích làm cho
ta thỏa măn nhứt. Sự vui thích bắt nguồn từ sự bằng ḷng, và sự
bằng ḷng bắt nguồn từ sự thực hiện một hành vi
được thành công. Bằng cách làm
khởi lên sự xác tín rằng chúng ta
được an toàn và giải thoát khỏi mọi sự trói buộc sẽ khiến
cho sự bằng ḷng và vui thích đến có
mặt ở đây.
Một phương pháp dễ dàng, mà ta có thể dùng
đến bất cứ lúc nào, là nghĩ
đến điều lành và làm
được điều lành. Ta có
được đờ́ sống an lành, một
đời đă gặp
được Chánh Pháp (Dhamma)
và biết rơ chắc chắn cách dứt trừ
được sự khổ sở (dukkha). Chúng ta những người may
mắn nhứt trong nhơn loại, những người
đă biết được Chánh Pháp và
dứt trừ sự khổ sở. Suy tư như thế sẽ làm cho ta vui thích và sung
sướng. Đấy là cách tự làm cho
ḿnh thật là vui thích và sảng khoái. Thực hiện
điều lành, thành tựu một cuộc
sống an lành, làm một người tốt, khám phá
được Chánh Pháp đủ để bảo đảm cho ḿnh
chẳng bị đau khổ -- loại suy tư nầy là
một cách giản dị để làm cho
tâm được sảng khoái.
Khi chúng ta đă
vững niềm tin rằng chắc chắn ta sẽ diệt trừ
được sự khổ sở (dukkha),
hoặc khi chúng đạt được điều tối hảo
nhứt mà con nguời có thể đạt
đến nổi, th́ tự nhiên chúng ta sẽ trở nên bằng ḷng và vui
thích. Chúng ta nghiên cứu để hiểu
được Chánh Pháp có thể dập tắt được sự khổ sở, để thành tựu
được điều tối hảo mà nhơn loại
cần đạt đến. Và ta
được bằng ḷng. Ta có
đủ khả năng làm cho tâm vui
thích lên, sảng khoái lên, bằng cách xử dụng kỹ thuật nầy.
Khiến tâm
định tĩnh.
Một khi ta có thể làm cho tâm hân hoan, sảng
khoái như ư ta muốn rồi, th́ ta thực tập bước kế tiếp.
Đối tượng của bước thứ chín
nầy là định tâm (samàdaham
cittam). Điều nầy có nghĩa là
ta có thể làm cho tâm tập trung lại,
đưa tâm vào định lực
(Samàdhi) mỗi khi ta muốn hay ta cần
đến. Bước nầy chẳng khó, bởi v́
chúng đă thực tập nó ngay từ
buổi đầu, nhứt là trong
bước thứ tư (an tịnh thân hành) và bước thứ tám (an
định tâm hành). Nếu ta
đă có thể làm
được như thế trước đây, th́
bây giờ ở đây ta cũng có thể làm
được như vậy. Hăy khiến tâm
tập trung vào định lực. Ta có thể dẹp
bỏ các cảm thọ khác ngay tức thời. Rồi tâm sẽ nhập định và
trở nên hoan hỉ. Hơn nữa, tâm c̣n có thể thực hiện nhiều nhiệm vụ
khác tiếp theo nữa. Khả năng nầy rất
có lợi ích.
Một vấn đề thông
thường lại đặt ra tại đây. Nhiều người lầm tưởng rằng một khi tâm
đă nhập định rồi th́ nó
phải bất động và chẳng thể nào
di chuyển được. Họ c̣n tưởng
rằng rồi chẳng c̣n có bất cứ cảm thọ nào khởi lên cả.
Đấy là sự hiểu biết rất lầm
lẫn. Ngồi bất động và cứng rắn
tựa như khúc gỗ, đó chỉ là một
bài thực tập huấn luyện. Nó giản dị chỉ là sự luyện tập ở một cấp
định lực cao hơn cấp b́nh
thường. Phát triển định lực thâm sâu
hơn ở Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, cho đến mức thân thể chẳng c̣n
hơi thở, cũng chỉ là những bài tập về huấn luyện. Mặc dầu vậy, nếu
thân thể có thể đạt đến các cấp thật
cao đó của định lực, th́ ngay ở các cấp
định lực thấp hơn, cũng vẫn chẳng có
vấn đề ǵ. Ngay đây, ở
bước thứ mười một nầy, đưa tâm
nhập vào định lực (samàdhi)
có nghĩa là tâm ấy đă có những
đức tánh tốt đầy đủ và sẵn
sàng để làm nhiệm vụ của nó.
Tâm ấy đang được chuẩn bị để thực
hiện các công tác của nó khi cần đến. Ở các bước
trước, tâm đă làm thế nào
để được vui sướng. Khi tâm đó được
vui sướng, nó có thừa khả năng để hoàn thành các nhiệm vụ.
Vậy, xin đừng hiểu lầm mà cho
rằng khi tâm nhập định, th́ ta
phải ngồi cứng bất động như khúc gỗ.
An
định thanh tịnh linh
hoạt.
Nếu tâm nhập định
một cách đứng đắn, ta quán sát sẽ thấy có ba đức tánh rơ
rệt nơi tâm ấy. Đức tánh của tâm trở
nên cứng cỏi, ổn cố, chẳng xao lảng, và rọi chiếu về một
đối tượng duy nhứt, được gọi là
tánh an định (samàhito).
Tâm ấy trong sáng và thanh tịnh, chẳng bị khuấy
động bởi bất cứ ǵ, chẳng
vướng bất cứ cấu nhiễm nào. Một tâm chẳng ô nhiễm
được gọi là tâm thanh tịnh
(parisuddho). Thứ ba, tâm ấy thích hợp nhứt và
được chuẩn bị đến cao độ nhứt để hoàn
thành các nhiệm vụ của tâm. Điều nầy
được gọi là tánh linh hoạt (kammaniyo) (tánh
hoạt động, tánh sẵn sàng).
Cũng chẳng có hại chi khi phải ghi nhớ nằm ḷng ba chữ Pali nầy:
samàhito, parisuddho và kammaniyo v́ cả ba
đức tánh đó cần phải có đủ khi biết
thế nào là một tâm nhập định
một cách đứng đắn. Đây chẳng những là loại
định lực thường hành trong các
cuộc thực tập quán tưởng chánh thức mà c̣n
được dùng trong các công tác
cần thiết hằng ngày nữa.
Ba đức tánh đó có
thể hiện diện trong khi ta đi hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc nằm. Có
một đoạn Kinh văn trong Tạng Pali, đáng lưu tâm, nói rằng, nếu có
đầy đủ ba đức tánh trên đây
trong khi đứng, th́ ta gọi
đó là thiên lập, (divine
standing). Nếu cả ba đức tánh đó
đều có đủ trong khi đi th́ gọi
đó là thiên bộ (divine
walking). Nếu có đủ cả ba đức
tánh đó trong khi ngồi th́ gọi
đó là thiên tọa (divine
sitting). Nếu có đầy đủ ba đức
tánh trên đây trong khi
nằm, th́ gọi đó là
thiên ngoạ (divine lýng). Rơ ràng là nhập
định đâu phải ngồi như một phiến đá
hoặc một khúc gỗ -- dưới con mắt của thế gian, đó là ù ĺ,
cứng ngắt, và chết lịm. Tinh hoa của
định lực (samàdhi) là tâm (citta) hoàn toàn
sẵn sàng để thực hiện mọi nhiệm vụ
của nó, tức là, phát triển kiến thức và sự thông hiểu từ
phút nầy đến phút khác. Ở mức tối
thiểu, tâm sẽ hân hoan khi ba đức tánh đều hiện diện. Có được sự
an lạc (sukha), đó cũng
là một nhiệm vụ của tâm. Và tâm trở nên sẵn sàng
để làm tṛn nhiệm vụ ấy khi nó
hội đủ ba đức tánh kể trên.
Hành giả khi tâm nhập
định nhờ ba đức tánh nói trên
được xem như là một "bực có
tâm an định"; tiếng Pali gọi là
samàhito. Đức Phật có nói,
được ghi lại bằng tiếng Pali, rằng "Khi nhập định, tâm thông hiểu
hết tất cả muôn pháp (dhamma, sự vật)
đúng như thật sự chúng là như
thế (samàhito yathàbhutam pajànàti)". Lợi lạc tối thượng
của samàhito, định tâm,
là tâm an định để hiểu biết mọi
sự vật đúng như sự thật. Nếu có một vấn đế nào trong
đời sống mà ta c̣n chưa t́m ra
lời giải đáp, th́ hăy nhập
định và câu trả lời sẽ tự
động t́m
đến. Khi tâm nhập định đi đến đâu, nó
cũng thấy sự vật đúng theo thực tế. Nếu ta nh́n vào bên
trong chúng ta, ta sẽ thấy mọi sự kiện
đúng theo chơn lư. Điều đó có nghĩa là
ta sẽ thấy vô thường, khổ sở, và vô ngă cách dễ dàng
(aniccam, dukkham, anattà), nếu tâm hội
đủ ba đức tánh về định lực.
Tự bạn, bạn sẽ thấy rằng ba
đức tánh đó đều liên quan hỗ
tương nhau mật thiết. Cả ba phối hợp nhau lại thành một
đơn vị duy nhứt. Chẳng thể có sự
thanh tịnh của tâm mà thiếu đi
được sự an định. Nếu chẳng có sự thanh tịnh, th́ chẳng thể
nào có sự an định. Và cần phải
có, vừa sự thanh tịnh, vừa sự an định,
th́ mới có thể có sự linh động
được. Cả ba liên hợp hoạt động
với nhau. Chúng là ba thành tố của một
định tâm. Xin bạn hăy cố t́m
hiểu rơ cả ba tiếng: an định, thanh
tịnh và linh hoạt. Cả ba cần
được b́nh đẳng hoá và
hợp nhứt lại để gọi là
định tâm (samàhito).
Chúng thật là hữu ích, hết sức vô giá, và mănh liệt. Thứ
định lực nầy đủ khả năng để giải
quyết tất cả các bài toán của
đời sống, liên quan đến các
vấn đề thiên nhiên, vật chất của thế giới, và cả
đến các câu hỏi về cơi siêu
thế vượt khỏi thế gian.
Sau cùng, xin bạn hăy nhớ và hiểu cho
điểm cốt yếu nầy. Khi tâm nhập định (samàdhi),
ta vẫn c̣n có thể đi, đứng, hoặc ngồi,
nằm, hoặc làm việc, hoặc thưởng thức thành quả của công tác
ḿnh đă làm, hoặc giúp kẻ khác
hay tự giúp nữa. Tâm nhập định (samàdhi
citta) có thể dùng vào bất cứ vấn
đề nào, trong mọi hoàn cảnh. Nó có thể dùng
để giải quyết mọi vấn đề. Xin hăy
quan tâm đến chữ samàhito
-- người có định tâm. Nó có đủ
khả năng để hoàn tất mọi nhiệm vụ.
Giải thoát tâm.
Trong khi thở vào và thở ra, ta thực tập cho
đến khi nào
đủ khả năng đạt đến ba thành
tố của định tâm. Và bước
thứ mười một chấm dứt, để tới
bước thứ mười hai. Bước thứ mười hai là
giải thoát tâm (vimocayam cittam). Giải thoát tâm có
nghĩa là đừng để cho tâm vướng mắc vào
đâu cả. Hăy thúc dục tâm buông
bỏ những ǵ đang bám níu vào.
Tâm như thế là một tâm trong sạch chẳng chút bợn nhơ. Nó hoàn toàn
tự do. Giải thoát tâm khỏi mọi ràng buộc có hai khía cạnh. Hoặc
chính tâm tự buông bỏ lấy những ǵ nó
đang bám níu vào, hoặc chính ta
đem các sự việc đó ra khỏi tâm. Kết
quả th́ cũng như nhau. Bạn hăy lấy
đem ra hết tất cả những ǵ mà
tâm chẳng nên bám níu vào. Rồi bạn quan sát kỹ coi c̣n lại những
ǵ đang bám níu vào tâm. Hăy
cố gắng cởi mở chúng ra khỏi tâm. Đây
là bước thứ mười hai.
Hiểu thật thấu đáo
ư nghĩa của sự việc mà ta gọi là ràng buộc (attachment,
chấp thủ) là điều thiết yếu. Có
lẽ chúng ta c̣n chưa quen lắm với sự việc
đó. Nhưng nếu ta c̣n chưa hiểu
sự ràng buộc, th́ làm thế nào ta có thể t́m cách chữa trị nó? Xin
tất cả các bạn hăy nghiên cứu nó với một sự quan tâm
đặc biệt. Mặc dầu đó là một
hiện tượng tâm linh, nhưng tôi dùng chữ nầy trong
điạ hạt vừa vật chất lẫn tinh thần để
nói đến nó. Tôi dùng các tiếng như là: ràng buộc, nắm
chặt và bám níu. Tuy nhiên, nó vẫn là một hành vi thuộc
điạ hạt tâm linh. Tâm trí c̣n
mê mờ và hành động theo sự mê
mờ đó. Do đó, tâm trí ấy khởi lên
các hành vi mà tôi gọi là ràng buộc, hoặc bám chặt hay là bấu níu.
Ta cần phải nghiên cứu nó thật cẩn thận, v́
đó là
điều có mặt ở đời sống của mọi dân
chúng, ở mọi người. Để mô tả gọn với vài tiếng, th́ ràng
buộc là nh́n một sự vật ǵ như là "Ta" hoặc là "của Ta". Hăy nắm
vững nghĩa chữ ràng buộc đó và
việc thực tập bước nầy sẽ được suông
sẻ.
Cách trực tiếp nhứt
để thực tập bước thứ mười
hai là cứu xét cho rơ các sự trừng phạt, nguy cơ,
độc hiểm, thống khổ, và
đau đớn, mỗi khi ta tự ràng
buộc vào việc ǵ và coi đó như là
"Ta", hoặc là "của Ta". Hăy chiếu rọi thật kỹ vào các trừng phạt
độc hiểm đầy nguy cơ và thống
khổ mà toàn bộ sự bị ràng buộc sẽ mang
đến cho ta chẳng thể nào tránh
khỏi được. Mặt khác, nên
nghiên cứu và nhận thức được các lợi
lạc, tốt đẹp và ưu điểm của
việc cởi mở. Khi ta chẳng bị ràng buộc, ta có những lợi lạc
ǵ? Niềm an lạc nào có sẵn ở đó? Hăy
quán sát kỹ lưỡng. Khi ta tự ràng buộc ḿnh vào một sự vật ǵ, th́
hậu quả sẽ là loại thống khổ nào, với cấp
độ nào? Hăy xem xét cả hai mặt
của đồng tiền. Thấy cho rơ ra
rằng h́nh phạt của sự ràng buộc và giá trị của sự cởi mở luân
phiên nhau liên tục trong tâm trí. Xuyên qua loại quán tưởng
đó, tâm trí sẽ tự động được giải
thoát. Tâm trí tự nhiên sẽ buông bỏ các sự vật, và các sự
vật cũng tự nhiên thôi bám chặt nữa, nhờ quán chiếu rơ hai sự kiện
đó. Tiếp tực quán chiếu đến khi nào
thấy rơ các h́nh phạt và sự thấp hèn của việc ràng buộc. Tiếp tục
quán chiếu cho đến khi nào
thấy rơ được các lợi lạc của sự cởi
mở. Quán chiếu cả hai vào mỗi lúc ta thở vào và thở ra.
Đấy là cách thực tập bước
nầy.
Bốn loại ràng buộc (chấp thủ).
Đối tượng của sự r àng buộc có rất nhiều.
Hơn nữa, chúng rất tế nhị và thâm sâu. Chúng rất khó cho ta nh́n
thấy, nghe và hiểu thấu đến chúng.
Tuy nhiên, ta có thể xếp chúng vào bốn loại, hay là bốn thể
thức ràng buộc. Loại thứ nhứt là tất cả mọi sự vật vật chất
được dục vọng (kàma)
trân quí. Dầu đó là tài sản,
vật dụng cần thiết, bảo ngọc, nữ trang, vàng và bạc; hoặc những sự
vật mà ta thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ mó
đến và tưởng nghĩ
đến, tất cả những thứ đó đều làm
căn bản nguồn cội cho nhục cảm và
dục vọng. Chúng là những đối tượng
của sự ràng buộc về nhục cảm. Ba loại ràng buộc c̣n lại có
các đối tượng phi vật chất. Loại thứ
nh́ là những sai lầm về ư kiến, tin tưởng, quan kiến và lư
thuyết. Chúng là những điều mà
ta c̣n chưa hiểu nỗi, nhưng v́ bị vô minh (avijjà) che lấp
nên ta chấp nhận chúng, bám níu vào chúng và có rất nhiều tà kiến.
Loại thứ ba là h́nh thức cổ truyền hành
động và thực hành mà chúng ta
noi theo. Mỗi thứ nầy, kể cả về tôn giáo hay thế tục, cũng là h́nh
thức của sự mê tín. Chúng là những tục lệ mà ta tự
đồng hoá với chúng và bảo vệ
chúng. Sau cùng, và cũng là quan trọng hơn cả ba loại trước, là
loại ràng buộc vào các sự vật mà đồng
hoá như là "Ta" hoặc là "của Ta".
Tất cả bốn loại ràng buộc
đó bao gồm hết mọi sự vật mà
ta bám níu vào. Hăy quán sát chúng và thấy ra
được sự hiểm độc thấp hèn khi
bám vào chúng. Thấy cho rơ giá trị của sự cởi mở ra khỏi chúng.
Liên tục quán tưởng mỗi loại với mỗi hơi thở vào và mỗi hơi thở ra.
Bằng cách ấy, chúng được cổi ra bằng
sự cởi mở tự động. Hăy phóng thích các
đối tượng ràng buộc ra. Hăy
buông bơ, hăy buông bỏ, hăy buông bỏ.
Khi chúng ta nh́n
đến đạo Cơ đốc (Christianity), ta thấy
đạo nầy cũng chia xẻ một mối lo về sự
chấp thủ (ràng buộc). Trên thực tế, biểu hiệu chánh của
đạo Cơ đốc là h́nh cây Thánh
giá chữ Thập (+ ) -- dạy rằng chữ "I" thẳng
đứng (trong Anh ngữ có nghĩa là
"Ta") bị dấu ngang (-) cắt bỏ đi.
Điều nầy tượng trưng cho sự dẹp bỏ mọi ràng buộc. Tất cả
mọi tôn giáo đều có điểm tương đồng
nơi mục tiêu chánh: sự tận trừ mọi ràng buộc vào cái "Ta"
và "của Ta". Đây là
điểm cao tột, trác tuyệt nhứt của sự
tu hành. Nó xoá bỏ mọi vấn đề,
đặc biệt là sự ích kỷ là nguồn gốc gây ra các vấn
đề khác. Cắt đứt sự ích kỷ th́
mọi vấn đề sẽ chấm dứt. Xin hăy
quan tâm đến việc buông bỏ muôn vật.
Buông bỏ bốn loại ràng buộc là
điều tốt nhứt mà ta có thể làm
được.
Một nhóm sự vật khác mà tâm cần buông bỏ v́
chúng đang khuấy rầy tâm lúc nầy, là
năm món che đậy, gọi là ngũ
cái (nivarana), năm thứ
cản trở tâm. Chúng là những thái
độ khởi lên trong tâm từ các
thói quen và các khuynh hướng suy tư của ta. Năm
món che đậy, ngũ cái,
đó là: tham dục, sân hận, thụy miên (mê ngủ), trạo hối (xao
động) và nghi ngờ. Ta cần dẹp
bỏ ngay ngũ cái là năm món làm
che mờ tâm trí. Xa hơn nữa, có các lậu hoặc (kilesa, cấu nhiễm,
phiền năo). Các t́nh cảm phiền năo của sự tham lam (lobha),
giận hờn (dosa), và si mê (moha) cần phải
được đuổi đi khỏi. Các cảm thọ thương
thích hay oán ghét, mọi khí sắc thoả ư hay bất măn,
bất cứ cố chấp nào vào sự vật thuộc nhị nguyên thường hiện diện
trong tâm, cũng đều nên gạt bỏ
ra khỏi. Sau cùng, ta sẽ nhận thức
được rằng chẳng c̣n vấn đề nào
lưu lại để đưa tâm vào khổ sở
(dukkha) nữa. C̣n có ràng buộc, là c̣n có khổ sở. Tâm
đă hoàn toàn vắng bóng mọi
ràng buộc rồi, th́ tâm sẽ chẳng c̣n thể nghiệm sự khổ sở, v́ c̣n
đâu cơ sở nữa để cho sự khổ sở khởi lên.
Mỗi khi tâm thấy có sự vật ǵ
đang đeo níu, nó liền cởi mở ra ngay.
Bạn hăy thực tập như thế vào mọi thời, khi bạn thở vào và
thở ra, nơi bước thứ mười hai nầy, là bước chót của
bộ bốn thứ ba (3rd tetrad) của Pháp Quán tưởng Giác niệm về
Hơi thở (Ànàpànasati). Tính chung lại, ta có bốn bước
liên quan đặc biệt đến
tâm (citta): thể nghiệm các t́nh trạng khác nhau của
tâm, làm cho tâm hân hoan, làm cho tâm
định tĩnh, và giải thoát tâm.
Xuyên qua sự học hỏi và thực tập nầy, ta
đă thành công trong việc
nghiên cứu hoàn toàn về tâm thức của chúng ta.
Xin phép được chấm
dứt buổi pháp thoại tại đây.
-ooOoo-
Bài 6
Tối thượng
Hôm nay chúng ta sẽ bàn luận về bộ bốn thứ
tư, (4th tetrad) tức là bốn bước cuối cùng. Bộ bốn nầy
đặc biệt nghiên cứu và học tập
về Pháp (Dhamma), tức là Chơn Lư. Các bạn c̣n nhớ, bộ
bốn thứ nhứt nghiên cứu về hơi thở và thân thể. Bộ bốn thứ
hai nghiên cứu về các cảm thọ là hậu quả của việc
điều hoà các thân hành, tức là
hơi thở. Tại đó, chúng ta chỉ nghiên
cứu về các cảm thọ của tâm, c̣n chưa xét
đến chính cái tâm (citta).
Chúng ta đă nghiên cứu các tâm
hành cho đến khi học tập được tất cả
những ǵ về sự chuyển biến cùng các
điều kiện ảnh hưởng đến tâm. Nhờ đó,
ta có thể kiểm soát được các tâm hành (citta
sankhàra), tức là những điều kiện
đă gây ảnh hưởng đến các tâm
trạng. Bộ bốn thứ ba nghiên cứu về tâm (citta),
và cách điều phục, kiểm soát nó.
Chúng ta đă nghiên cứu, học tập, phát triển, luyện tập và
thực hành nhiều cách để kiểm soát tâm.
Giờ đây, tại bộ bốn thứ tư nầy, một khi cái tâm
đó đă
được huấn luyện thuần thục và
đă
được hàng phục rồi, chúng ta
có thể dùng nó để nghiên cứu
về Pháp, Chánh Pháp (Dhamma), tức là Chơn Lư của Thiên
nhiên. Bạn hăy nh́n thấy rơ bốn bộ bốn
đó đă liên quan nhau mật thiết
như thế nào: trước nhứt là thân hành (kàya sankhàra),
kế đó là tâm hành (citta
sankhàra), rồi đến chính cái
tâm (citta), và sau chót là Pháp (Dhamma),
những sự kiện chơn lư (sacca dhamma) về Thiên nhiên (Dhamma
jàti).
Cách lập luận ở
đây cũng giản dị thôi. Một khi tâm đă chịu ở dưới quyền lực
của chúng ta rồi, và ở trong ṿng kiểm soát của chúng ta, th́ ta
có đủ khả năng xử dụng tâm ấy để làm
việc được. Do nhờ thực tập
bộ bốn thứ ba, do nhờ khả năng
tập trung tâm vào định lực, mà
tâm đă có
được khá nhiều sự linh hoạt, sẵn sàng
hành động (kammaniyo).
Tâm trở nên thích hợp và sẵn sàng để
hoàn tất nhiệm vụ của nó. Trong tiếng Pali, có một tĩnh từ
chỉ rơ t́nh trạng đó, là
mudu có nghĩa là mềm dịu, nhu nhuyến. Trước kia, tâm thô phù
và cứng rắn, nay tâm trở nên nhu nhuyến, và tế nhị. Tâm nay rất
nhạy cảm và nhanh nhẹn, trong một t́nh trạng sẵn sàng
để được xử dụng. V́ lẽ
đó, ta dùng nó
để thi hành công tác nơi bộ
bốn thứ tư nầy, mà nhiệm vụ đầu
tiên chính là để quán tưởng về
vô thường.
Đặc tánh vô thường của giác niệm về hơi thở ( Ànàpànasati)
.
Nguyên tắc căn bản
được dùng trong toàn bộ sự thực tập nầy là xử dụng ngay
những sự vật đă sẵn có ở bên
trong chúng ta, để dùng làm
đối tượng khảo sát và thực tập.
Ta chẳng thích dùng đến các ngoại vật.
Một khi ta đă hiểu rơ bên trong rồi, th́ ta có thể ngoại
suy ra đến bên ngoài. Xin
đừng bao giờ quên nguyên tắc
quan trọng nầy: ta cần nên cứu xét rơ sự vật
đang hiện hữu bên trong. Vậy
th́, với bước thực tập nầy, về quán tưởng vô thường
(aniccànupasś), ta sẽ quay lại với bước khởi
đầu.
Trước nhứt, ta quán sát hơi thở, chỉ hơi thở
thôi, cho đến khi nào ta thấy
rơ ra được hơi thở ấy là vô
thường. Ta quan sát thấy hơi thở thay
đổi và trở nên dài: nó vô thường. Chiều dài cũng thay
đổi, trở nên dài hơn hoặc ngắn
hơn. Chiều ngắn cũng thế, cứ thay đổi
luôn. Các t́nh trạng và đặc
tánh khác nhau của hơi thở đều vô thường. Ảnh hưởng của hơi thở
đến thân thể cũng vô thường. Kế đến, ta quán sát cả hai
thân -- thân thể chất và thân hơi -- cũng
đều vô thường. Rồi ta canh chừng để
nh́n thấy sự êm dịu của hơi thở, lại cũng vô thường, và
điều nầy rất ư là rơ rệt. Hơi
thở biến đổi từ sự thô phù
chuyển sang sự êm dịu, nhưng ngay cả sự êm dịu nầy cũng vô thường
nữa. Nó liên tục cứ biến đổi măi
sang thành các trạng thái khác. Bạn hăy quán tưởng mỗi lần một
bước, cho đến khi nào mỗi
giai đoạn được nom thấy rơ ra
là vô thường.
Cuối cùng, các cảm thọ Hỉ (nỗi mừng) và
Lạc (niềm vui) khởi lên. Hăy xem xét chúng cho kỹ, lần lượt
từng cái một. Hăy nh́n thấy ra vô thường trong mỗi khía cạnh của
các cảm thọ (vedanà) đó. Hăy
quán tưởng đặc tánh vô thường trong
việc các cảm thọ nầy đă gây ảnh hưởng
đến tâm. Sự lắng dịu của các cảm thọ
Hỉ, Lạc nầy cũng vô thường.
Tiếp đến, ta quán
sát chính cái tâm, nó cũng vô thường nốt. Tâm hân
hoan, tươi mát là vô thường, khi nó thay
đổi thành tâm an lạc và sảng
khoái. Hăy quán tưởng sự vô thường của vẻ hân hoan và sảng khoái,
cùng các t́nh trạng và hương vị khác nhau của chúng.
Định tâm cũng vô thường, khi nó ngă
sang t́nh trạng mất định lực. Sự linh
hoạt của định lực (samàdhi) cũng gặp ngay sự vô
thường phát khởi ở trong nó. Ngay cả tâm giải thoát cũng vô thường,
v́ sự giải thoát cho tâm chỉ tạm thời.
Hăy nhận thức rơ rệt sự vô thường ngay ở mỗi
một bước, ngay ở mỗi một giao
điểm, giai đoạn và phương diện của sự thực tập nầy. Hăy
khiến cho sự vô thường của mỗi bước trở nên tuyệt
đối rơ ràng, rất mực hiển
nhiên và hoàn toàn chắc chắn. Đây là
cách ta nên quán tưởng như thế nào về sự vô thường của các hiện
tượng tâm linh tạm bợ được gọi chung
dưới danh từ là chư hành (sankhàra). Tại
bước thứ mười ba tiếp theo đây,
chúng ta sẽ quán tưởng về sự vô thường của các hành
(sankhàra) đó.
Cùng với vô thường, c̣n có các
đặc tánh khác nữa.
Giờ đây, bạn hăy
quán sát để thấy rằng, trong việc
nhận thức về vô thường, c̣n có sự nhận thức nhiều
đặc tánh khác nữa. Khi sự
vô thường (aniccam) được
thực sự nh́n thấy, th́ đặc
tánh nầy cũng là đặc tánh của
sự khổ sở (dukkham) nữa, tức là nó vừa xấu xí
lại vừa làm ta chẳng chịu nổi. Ta lại c̣n thấy cả
đặc tánh vô ngă (anattà)
ở trong đó nữa, bởi v́ các sự
vật đó cứ thay đổi luôn, vô thường,
bất toại nguyện, và vượt ngoài ṿng kiểm soát của ta. Rồi
ta lại sẽ thấy chúng đều khiếm khuyết
một tự ngă, đó là
sunnatà, đặc tánh rỗng
không. Ta sẽ thấy chúng cứ là như thế, chỉ là như thế, giống
là như thế vậy thôi. Sự vô thường chỉ là như thế, chỉ giống như
thế, và do đó ta thấy được đặc tánh
như thị (tathatà) (= cứ như thế).
Xin bạn hăy thông hiểu rơ ràng
điều nầy: các chơn lư vừa kể trên
đều được nhận thức ra có liên
hệ với nhau thật chặt chẽ. Nhờ thấy
được đặc tánh vô thường, ta thấy
được các đặc tánh khác như
bất toại nguyện, vô ngă, rỗng không, như thị,
đồng thời ta cũng thấy ra được đặc
tánh điều kiện hoá
(idappaccayatà, conditionality), tức là qui luật
nhân quả. Mỗi đặc tánh tiếp diễn theo
ngay vào trong đặc tánh kế sau.
Một sự nhận thức đầy đủ về vô thường cần phải bao
gồm vào trong nó các đặc tánh
bất toại nguyện, vô ngă, rỗng không, như thị, qui luật của sự
điều kiện hoá. Khi tất cả
các đặc tánh đó đồng thời được ta nom
rơ thật đầy đủ, th́
đặc tánh vô thường
đă
được ta thấy ra một cách sâu xa nhứt.
Đó là cách mà ta cần phải nhận thức rơ ràng như thế nào về
đặc tánh vô thường của chư
hành (sankhàra, các hành).
Chúng tôi đă
giải thích về chư hành (sankhàra) và ta
đă thực tập về
đề tài nầy rồi. (Xin xem lại
hai tiểu mục: Giải thoát tâm, và Bốn loại ràng buộc
ở cuối bài pháp số 5). Các loại nguyên nhân,
điều kiện, và các thành tố cần
được "pha chế" vào hợp thể,
phải được biết rơ mới xử dụng
đúng mức danh từ "chư hành"
(sankhàra). Đặc tánh của
các tác viên tạo điều kiên
gây thành ảnh hưởng (the conditioners) là sự vô thường.
Đặc tánh của các sự vật bị điều kiện
hoá (tức là gánh chịu ảnh hưởng của
điều kiện) (the conditioned)
cũng là vô thường. Đặc tánh của cái
tác động, hay là tiến tŕnh của sự
điều khiện hoá (tức là tác
động của các điều kiện lên
trên sự vật) (the conditioning) lại cũng là vô thường. Nh́n
thấy ra được cả ba khía cạnh ấy thật
rơ ràng như thế đó mới gọi là
nhận thức được đặc tánh vô thường một
cách sâu xa và đầy đủ nhứt.
Nếu giản dị chỉ nh́n thấy riêng một ḿnh vô
thường (aniccam) mà chẳng nom thấy rơ
được các đặc tánh khác đồng khởi với
nó, th́ cũng chẳng có ǵ là lạ, là khác thường cả. Nhận
thức được vô thường (aniccam)
đầy đủ cần phải bao trùm cả
các sự nhận thức về khổ sở (dukkham), vô ngă
(anattà), rỗng không (sunnatà), như thị
(tathatà), và điều kiện
hoá (idappaccayatà, có nguyên nhân nguồn gốc là...).
Nếu chỉ thấy riêng vô thường (aniccam), trong một
cái nh́n thiếu sót, chẳng hàm chứa khổ sở (dukkham),
và vô ngă (anattà) vào bên trong th́ cái nh́n
đó chẳng sâu xa, chẳng đầy đủ, để có
thể giải quyết các vấn đề của chúng ta. Như thế, trong khung cảnh
bài nầy, chữ "nhận thức vô thường" phải thật sâu
rộng để trùm hết các sự nhận
thức về khổ sở (dukkham), vô ngă (anattà),
rỗng không (sunnatà), như thị (tathatà)
và điều kiện hoá (idappaccayatà)
nữa.
Có một câu chuyện có lẽ sẽ
đem đôi chút hứng thú đến các bạn.
Trong Kinh Tạng (Suttanta pitaka), hệ Pali,
Đức Phật có nhắc đến một vị đạo sư vào
thời đó, tên là Araka, có
giảng dạy về vô thường, cũng nhiều như
Đức Phật đă giảng; nhưng ông
ta dừng lại chẳng đi xa hơn và
chẳng nói ǵ về khổ sở (dukkham) và vô ngă (anattà).
Điều thú vị là vào thời
Đức Phật, cũng có một nhà hiền
triết Hy lạp tên là Heraclitus. Đức
Phật bảo rằng Araka đă giảng dạy, tại một lănh thổ xa xôi,
về vô thường, xem đó
như là một ḍng đang trôi chảy.
Có lẽ Đức Phật muốn nói đến Heraclitus, mà
điểm chánh yếu trong lời giáo huấn
của ông là panta rhei (tiếng Hy lạp, nghĩa là "muôn
sự vật đều trôi chảy" hoặc "tất cả là
ḍng lưu chuyển"). Tuy nhiên, nhà hiền triết nầy chỉ giảng về vô
thường và chẳng nới mở rộng thêm cái nh́n sâu sắc
để bao trùm cả khổ sở
dukkham), vô ngă (anattà), không tánh (sunnatà),
và như thị (tathatà). Như thế, lời giáo huấn ấy c̣n
chưa thành công. Nếu không, th́ đă
có một vị Phật khác ra đời ở đấy, vào
thời buổi đó rồi. Kiến thức về vô
thường được lan rộng ở khắp nơi cả trong và ngoài nước Ấn
độ. "Lănh thổ xa xôi" nói
trong Kinh tạng, có lẽ là đă
chỉ vào một nước quốc gia ngoại bang nào
đó, và tôi dựa vào
điều nầy để xem như Araka và
Heraclitus là một người.
Vậy, có nhiều triển vọng
để Araka, người được Đức Phật nói đến,
chính là Heraclitus. Bạn nào có lưu tâm
đến th́ có thể tra cứu thêm
trong lịch sử triết học Hy lạp. Dầu sao,
điểm cốt yếu là nếu chỉ nh́n
riêng về vô thường thôi th́ chưa đủ.
Ta cần phải thấy rơ vô thường (aniccam)
đang rạng chiếu lên khổ sở
(dukkham), vô ngă (anattà), không tánh
(sunnatà), và như thị (tathatà) -- cả một
chuổi dài trọn vẹn của sự nhận thức. Vơn vẹn mấy chữ
aniccànupassi, sự quán tưởng về vô thường, mà bao hàm hết
được sự nhận thức về bất toại nguyện,
vô ngă, rỗng không, như thị, và cả
điều kiện hoá nữa.
Sự tan rả của ràng buộc.
Giờ đây, xin hăy
quán sát -- nghiên cứu thật tường tận cho
đến khi thấy rơ
được -- rằng sự nhận thức về
vô thường (aniccam) làm tan rả
được upàdàna, sự ràng buộc.
Đây là
điểm chủ yếu. Nhận thức được
vô thường (aniccam) làm tan rả các ràng buộc, bởi v́
đó là sự nhận thức về các h́nh
phạt, khổ đau, và xấu ác của
sự ràng buộc. Upàdàna, (ràng buộc) tan rả từ từ cho
đến khi c̣n rất ít, rất ít,
lưu lại. Đấy là thành quả của
nhận thức về vô thường. Thành quả đó
khiến ta càng ngày càng mệt mơi và chán ngấy với những sự
vật mà ta cứ tiếp tục ràng buộc ḿnh vào, và cùng với những sự vật
mà ta c̣n bị trói buộc. Upàdàna (ràng buộc) bắt
đầu tan rả và
đó là kết quả của việc thật sự
nh́n thấy rơ ra được vô thường.
Giờ đây ta đến
bước thứ hai của bộ bốn cuối cùng nầy, tức là
bước thứ mười bốn trong toàn bộ Pháp Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati)
liên quan đến việc quán tưởng về sự
phai nhạt (viràgànupassi, quán tưởng về vô chấp thủ).
Điều nầy đă bắt
đầu được quán sát rồi ở
bước thứ mười ba khi sự quán tưởng về vô thường
đă
đưa đến sự tan rả các ràng
buộc (= các chấp thủ). Giờ đây, ta
đặt tiêu điểm lên trên
sự kiện tan rả (viràga) để soi
chiếu kỹ lưỡng. "Vi" có nghĩa là "chẳng", là "vô"
(chữ Hán Việt), là "chẳng có". "Ràga" là tên khác của
chữ ràng buộc, của chữ"chấp thủ"."Viràga" có nghĩa là "chẳng
có ràng buộc", là "vô chấp thủ". Nh́n vào ràng buộc
đang tan rả cũng tựa như xem các đốm
dơ trên tấm vải đang từ từ
phai nhạt dần. Các đốm dơ nhiều màu sắc
đó chầm chậm phai mờ, tái nhạt dần
dưới ánh sáng mặt trời, cho đến khi tấm vải trở nên trắng
lại. Đây chỉ là một thí dụ vật
chất về Viràga (tức là sự vô chấp thủ, sự chẳng có
ràng buộc, hoặc là sự cởi mở).
Nó giúp ta hiểu rơ thêm về mặt tinh thần của sự
tàn lụn lần lần của mọi ràng buộc. Upàdàna, sự bám níu, sự chấp
thủ, tan rả dưới ánh quang minh của trí huệ soi chiếu vào muôn
sự vật đúng như thât sự chúng là
như thế -- vô thường, khổ sở, vô ngă, không tánh, và như
thị -- aniccam, dukkham, anattà, sunnatà, tathatà. Ta biết
rằng sự bám níu (chấp thủ) sẽ bớt lần lần, khi tâm ta trở nên b́nh
đẳng đối với mọi hành (sankhàra),
tức là xem tất cả những vật mà ta luyến mến
đều như nhau, (chẳng cái nào
trọng hơn cái nào). Nay chúng ta đă
dứt bỏ được mọi thành kiến
thiên vị, đối với tất cả mọi sự vật,
ta nhận thức được thế nào là sự phai nhạt, sự tàn lụn của
mọi bám níu ràng buộc. Hăy quán tưởng như thế với mỗi hơi thở vào
và mỗi hơi thở ra. Đấy là cách
thực tập bước thứ mười bốn.
Thành quả của sự phai mờ, tàn lụn của trói buộc,
là sự ổn cố của tâm b́nh đẳng chẳng c̣n
bám níu vào đâu nữa. Ta có thể nh́n
thấy một cách khá dễ dàng, thí dụ như
đối với các sự vật mà trước kia ta
đắm say cuồng dục vào, nay
đă bắt
đầu phai mờ dần. Ta hết c̣n lo
sợ các sự vật mà trước kia khi chợt thấy ta
đă hăi hùng. Từ từ ta bớt lo
âu, càng ngày càng ít đi, cho đến khi
sự sợ hăi biến mất. Điều nầy
cũng đúng với các t́nh cảm khác như oán hận, khát vọng,
ganh tị, lo âu, ưu sầu, luyến nhớ dĩ văng, và v.v. Mỗi t́nh cảm
đó càng ngày càng bớt bộc lộ
ra, co rút nhỏ lại, cho đến khi tâm
tư có đủ khả năng để tự giữ yên lặng và bất
động. Có lẽ, bạn thấy rắc rối khi
nghe câu: tâm tư giữ yên lặng và bất
động. Câu
đó chỉ có nghĩa là: chẳng bám
chặt vào, chẳng bấu níu, chẳng xem bất cứ cái ǵ như là "Ta" hay
là "của Ta" cả. Hăy quán tưởng vô thường như thế, cho
đến khi sự ràng buộc của các
sự vật mà ta bám níu đều tan rả hết,
cho đến khi mà ta có thể giữ
được tâm tư yên lặng, bất động
và b́nh đẳng.Đó là cách
thực tập bước thứ mười bốn nầy.
Sự dập tắt khổ sở (dukkha).
Giờ đây, ta đến
bước thứ mười lăm, quán
tưởng đoạn diệt (nirodhànupasś), nghiên cứu và
quán tưởng về sự đoạn diệt các ràng
buộc. Hăy quán sát sự chấm dứt của ràng buộc, sự vô chấp thủ,
khi thở vào và thở ra. Ta có thể quán sát sự
đoạn diệt qua nhiều cái nh́n
khác nhau về: sự đoạn diệt của sự ràng
buộc vào cái "Ta", sự đoạn diệt của ḷng
ích kỷ, sự đoạn diệt của tham lam,
sân hận, và si mê, cùng sự
đoạn diệt của mọi kinh nghiệm về sự khổ sở (dukkha).
Tất cả các sự đoạn diệt nầy đều khởi
lên cùng một lúc với sự đoạn
diệt của ràng buộc. Có nhiều h́nh thức của sự
đoạn diệt.
Khi ta nói đến sự
diệt tận, ta nên nhớ rằng, sự chấm dứt của khổ sở (dukkha)
chính là sự thực tập về Pháp (Dhamma) nầy. Ngay
đây, ta quán sát các khía cạnh khác
nhau của sự Khổ sở (dukkha)
để thấy chúng được dập tắt như thế nào.
Khía cạnh thứ nhứt là sự chấm dứt của nỗi lo sợ, hăi hùng về
sanh, già, bịnh và chết. Già lăo, bịnh tật và chết chóc
chẳng c̣n làm tâm ta khiếp sợ nữa.
Đấy là một loại dập tắt được
khổ sở. Khía cạnh kế tiếp là sự chấm dứt các triệu chứng
hay là các t́nh trạng của khổ sở, như buồn bă, trách cứ, than văn,
thất vọng, âu sầu, đau đớn, bực tức và
suy giảm tinh thần. Tất cả các triệu chứng
đó của Khổ sở được dập tắt. Khía cạnh
thứ ba có liên quan đến các
niềm hi vọng, các món nhu cầu, đến các sự vật thích thú hay chẳng
hấp dẫn. Có kinh nghiệm về các sự vật mà ta chẳng ưa, là
khổ sở. Phải rời xa những sự vật mà ta thương thích, cũng là khổ
sở. Chẳng có được các điều ta cần,
lại là khổ sở nữa. Các khía cạnh
đó của Khổ sở cũng được dập tắt.
Sau rốt, ràng buộc vào năm
uẩn (panca khandha),
đeo níu vào một uẩn (khandha)
nào rồi xem đó như là "Ta"
hay là "thuộc về Ta", là khổ sở. Năm
uẩn đó là tấm
thân thể chất, cảm thọ, tri giác, tư tưởng và ư thức về các giác
quan. Chúng là tổng số của mọi sự khổ sở, gánh nặng của
đời sống. Một sự nhận thức đầy đủ về
bước thực tập nầy phải bao gồm hết bốn phương diện
của sự dập tắt khổ sở. Dập tắt sự hăi hùng về sanh, lăo, bịnh và
tử. Dập tắt các triệu chứng của khổ sở như
đau đớn, lo lắng, ưu sầu, và
tuyệt vọng. Dập tắt mọi ước muốn, dục vọng về các sự vật khả ái
hay là đáng oán ghét. Sau cùng,
dập tắt việc xem bất cứ uẩn nào trong năm
uẩn là "Ta". Khi bốn phương diện
đó đă
được dập tắt xong, th́ khổ sở
cũng được dập tắt theo. Điều mà
chúng ta vẫn đang khẩn thiết mong đợi
nay đă được thực hiện, ngay
tại đây.
Như thế, ta nhận thức ra
được tánh cách rỗng rang, hay là
sự bất hiện hữu của ràng buộc qua sự dập tắt, sự biến mất và sự
chấm dứt của ràng buộc. Ta thể nghiệm
được sự vắng bóng của ràng buộc trong bất cứ khía cạnh nào
đă
được nêu lên bên trên
đây, trong khi ta thở vào và
thở ra. Hay giản dị hơn nữa, ta uống, nếm và thưởng thức hương vị
của Niết-bàn (Nibbàna). Hai chữ
Đoạn diệt (Nirodha)
và Niết-bàn (Nibbàna)
đồng nghĩa với nhau. Ta có thể dùng chữ nầy thay thế cho
chữ kia. Như thế, quán tưởng sự dập tắt mọi ràng buộc tức là quán
tưởng Niết-bàn vậy.
Quẳng bỏ trả lại tất cả.
Ngay đây, ta đến
bước thứ tư của bộ bốn thứ tư, tức là bước
thứ mười sáu của Pháp Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati).
Bước nầy được gọi là sự
quán tưởng quẳng ngược trả lại, Patinissaggànupassi. Chữ
Patinissagga cũng hơi ngộ nghĩnh! Nó có nghĩa là quẳng ngược
về phía sau, hay là hoàn trả lại. Khi ta tiến tới bước nầy,
ta quán tưởng việc ta quẳng ngược trả lại phía sau, việc ta hoàn
trả lại tất cả những ǵ đă có
một thời ràng buộc ta. Đây là
bước chót.
Có một ẩn dụ giản dị dùng
để giải thích bước thứ mười
sáu nầy. Xuyên qua cả cuộc đời
của chúng ta, chúng ta đều là bọn trộm cả. Chúng ta
đánh cắp các sự vật vốn hiện hữu một
cách tự nhiên -- ở trong Thiên nhiên và thuộc về Thiên
nhiên -- đó là chư hành
(sankhàra). Chúng ta cướp giựt chúng và lấy chúng làm cái
"Ta" và làm tài sản của chúng ta. Chúng ta chẳng là ǵ khác hơn là
các tên trộm. Do lẽ đó mà
chúng ta đang bị trừng phạt v́
Khổ sở. Chúng ta chịu đau đớn, thống
khổ, do v́ chúng ta đă
đánh cắp và tham luyến
đến mức để bị ràng buộc. Một
khi chúng ta đă quán sát
để thấy rơ các sự vật
đúng như thật sự chúng đang là
như thế, qua các bước liên tiếp của bộ bốn nầy, th́
chúng ta liền buông bỏ chúng được hết.
Chúng ta thôi chẳng c̣n là phường trộm cắp nữa. Chúng ta
hoàn trả lại tất cả cho người chủ của thuở ban
đầu -- Thiên nhiên. Muôn sự
vật đều thuộc về Thiên nhiên.
Ta đừng bao giờ đ̣i hỏi lấy
chúng để làm "Ta" hay là "của
Ta"nữa! Mục đích của đời chúng ta đă
được ẩn dụ nầy làm sáng tỏ
thêm.
Đặt gánh nặng cuộc đời xuống.
Nếu các bạn thích, th́ c̣n có một ẩn dụ thứ hai
nữa. Trong thời gian qua, chúng ta đă
điên khùng
đi lượm những vật nặng như các ḥn
đá cuội nầy. Rồi chúng ta mang chúng
theo kè kè bất cứ nơi nào chúng ta
đi đến. V́ lẽ
đó nên chúng ta phải chịu khổ
sở luôn luôn. Đă bao năm
trôi qua rồi như thế đó? Giờ đây, chúng ta mới nhận thấy thật là
chúng ta đă quá dại khờ tạo
nên các vấn đề khó khăn cho chính
chúng ta. Chúng ta nhận thức được sự đè nén nặng nề của
chúng lên chúng ta, va nay chỉ cần vứt bỏ chúng
đi hết. Thoát khỏi các gánh nặng đó,
chúng ta trở nên nhe nhàng. Tất cả các vấn
đề khó khăn đó đều biến mất. Trước
kia, đời sống xem như một gánh nặng. Trọn đời ta cảm thấy như gánh
nặng, cũng v́ sự ngu khờ của chúng ta. Chúng ta
đă
đeo dính các hành (sankhàra)
tự nhiên đó, mang chúng đi khắp chốn
làm cho chúng ta phải oằn lưng lại một cách kinh khủng. Giờ
đây, chúng ta quẳng chúng đi. Đấy là
một ẩn dụ khác nữa để mô tả
bước cuối cùng của Pháp Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati).
Sự thực tập bước cuối cùng nầy là
để huấn luyện chúng ta quẳng đi gánh
nặng của cuộc đời. Hăy quẳng
đi cho hết chẳng c̣n gánh nặng nào sót lại. Trước kia, ta
sống dưới áp lực nặng nề của chúng. Sức nặng của chúng
đè nén chúng ta. Ta gọi cuộc
sống như thế là đang sống ở bên
dưới thế giới, hay là đang đắm ch́m
sâu trong thế giới. Một khi chúng ta
đă quẳng đi các gánh nặng đang
nhận ch́m chúng ta xuống, đang
giam giữ chúng ta ở bên dưới thế giới, th́ chúng ta mới
trồi lên được. Và chúng ta
vượt khỏi lên trên thế giới, Chúng ta trở thành Chúa tể của thế
giới. Đây mới thật là ư nghĩa
của tự do, giải thoát và an lạc.
Bạn cần phải cẩn thận nhớ kỹ ư nghĩa của hai
t́nh trạng đó. Sống ở bên dưới
thế gian là cuộc sống trong ṿng thế tục (lokiya).
C̣n sống vượt lên trên thế gian là cuộc sống siêu thế (lokuttara).
Tất cả mọi vấn đề khó khăn liên
quan đến hai ư nghĩa đó sẽ được giải
quyết trong khi thực tập bước thứ mười sáu nầy. Xin
được nói thêm cho thật rơ, mỗi
khi chúng ta điên rồ, chúng ta
đi thâu lượm các vật nặng và
đeo chúng lên
để thành gánh nặng cho cuộc
đời. Một khi chúng ta hiểu rằng chúng
ta đang bị hành hạ, th́ chúng ta liền quẳng bỏ chúng hết.
Giờ đây, chúng ta chẳng c̣n
mang gánh nặng nào. Sống ở bên dưới thế gian và sống vượt lên khỏi
thế gian, cả hai có ư nghĩa hoàn toàn khác nhau. Bất cứ ai muốn
được tự do, giải thoát, thoải mái,
sống vượt lên bên trên thế gian, cần phải nên nỗ lực hết
sức ḿnh để thực tập vấn đề nầy, càng
nhiều càng tốt, và bắt đầu ngay bây
giờ đây.
Sự giải thoát tối thượng.
Nếu bạn thích danh từ "giải phóng" (emancipation),
th́ bạn hăy ư thức rằng đây chính là
con đường giải phóng. Giác niệm về
Hơi thở (Ànàpànasati) khi
được thực tập thành công ở
bước cuối cùng nầy mang lại sự giải phóng. "Giải phóng" là một
danh từ thời thượng ngày nay, người ta thích dùng
đến luôn. Khi chúng ta được giải
phóng khỏi mọi trói buộc, th́ hoặc chúng ta buông bỏ mọi
gánh nặng, hoặc chúng ta vượt thoát
được các gánh nặng ấy. Dầu sao th́ "buông bỏ" hay "vượt
thoát" ư nghĩa cũng tựa như nhau. Khi có buông bỏ th́ kết quả là
có sự giải phóng, hay nếu bạn muốn, th́ nói là có sự cứu rỗi, cứu
độ, giải thoát, v.v. Dầu danh từ nào
được dùng
đi nữa, th́ cũng
đều có nghĩa là chúng ta
đang bắt gặp được một sự việc tốt
nhứt, hoàn hảo nhứt mà nhơn loại có thể có
được. Chúng ta đă không lăng
phí cuộc đời của chúng ta, chúng ta đă
chẳng bỏ trôi qua cơ hội khám phá ra Chánh Pháp (Dhamma),
là điều tối hảo mà nhơn loại
cần phải đạt đến. Đấy là phần
chung cuộc của câu chuyện.
Xin phép được chấm
dứt buổi pháp thoại ở đây.
-ooOoo-
Bài 7
Các lợi lạc cao nhứt
Hôm nay, chúng ta sẽ tóm tắt lại những chỗ sưu
tầm của Pháp Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati)
được các bài pháp thoại nầy
bàn đến. Chúng ta sẽ tóm lược lại
mười sáu bước, theo đặc
tánh chủ yếu của chúng, giá trị các lợi lạc cùng các phương
tiện để thực hiện được các lợi lạc đó.
Xin các bạn vui ḷng nghe cho cẩn thận. Rồi các bạn sẽ có
đủ khả năng để hưởng dụng các lợi lạc
đó đến mức tối đa.
Xin đừng quên
rằng chúng ta đang bàn về
Thiên nhiên, về bốn khía cạnh của Thiên nhiên và qui luật của
Thiên nhiên biểu lộ trong bốn khía cạnh
đó: thân (kàya),
cảm thọ (vedanà), tâm (citta) và
Pháp (Dhamma). Thiên nhiên thanh tịnh và giản dị! Vậy,
xin bạn hăy hiểu cho rơ danh từ Dhamma jàti nầy. Nó
vừa là qui luật của Thiên nhiên, vừa tuân phục theo qui luật
đó; Thiên nhiên và qui luật
của nó, chẳng thể nào tách rời nhau ra. Là sanh vật, chúng ta có
nhiệm vụ phải thấu hiểu và xử dụng Thiên nhiên như thế nào
để đem lại lợi ích tối đa cho chúng
ta. Mặc dầu chúng ta chẳng thể kiểm soát Thiên nhiên
được, nhưng chúng ta có thể lợi dụng
Thiên nhiên để đem phần lợi về
cho ḿnh, khi chúng ta biết hành
động một cách đứng đán chiếu theo qui
luật của Thiên nhiên. Chúng ta biết
đến bốn "thiên nhiên"
đó cũng chỉ v́ sự lợi lạc cho
đời sống của chúng ta, dầu cho đời
sống ấy có kéo dài đến bao lâu
đi chăng nữa.
Thân (kàya): làm mát dịu các t́nh cảm .
Đề t ài thứ nhứt
để thực tập Giác niệm về Hơi thở là
kàya, thân hay là các thân. Chúng ta
đều hiểu rơ tầm quan trọng của
thân đối với đời sống, nên
chẳng cần giải nghĩa thêm dài ḍng. Tấm thân làm cơ sở cho
tâm trí. Ta cần có một thân (kàya) sẵn sàng
đủ sức để tự bảo vệ và tự bảo
tŕ lấy nó và một tâm trí hướng theo sự lợi lạc của
đời sống. Hơn nữa, ta cần hiểu biết
cách kiểm soát thân dựa theo các nhu cầu của ta, qua
sự điều chỉnh hơi thở. Nhờ làm
được như thế, ta có thể thay đổi được
khí sắc và t́nh cảm. Thí dụ như, khi ta tức giận, ta có thể
buông bỏ nổi giận hờn bằng cách thở dài hơi. Do hơi thở dài mà cơn
giận biến mất. Khi ta đang lo âu và
chẳng thể nào suy nghĩ cho thẳng thắn
được, ta thở dài hơi, càng lúc càng dài,
để đuổi sự lo âu ra khỏi. Hoặc ta
muốn đổi chiều một tư tưởng nầy sang một chiều hướng tư tưởng khác,
ta có thể làm được như thế
bằng cách thở thật dài hơi để
quét sạch cái tư tưởng hay cái t́nh cảm chẳng
đáng mong muốn đó và thay thế
chúng bằng một chút ǵ b́nh thường và có trật tự hơn. Thế là ta có
đủ khả năng để suy nghĩ đến những
điều đáng lẽ ra phải được nghĩ đến. Vậy th́, tấm thân
(Kàya) đâu chỉ có xương
với thịt mà thôi, c̣n có nhiều hơn thế, thân
đó ảnh hưởng cả đến tâm trí nữa.
Riêng chỉ một ḿnh hơi thở cũng
đủ làm cho ta phải t́m hiểu
cho thật rơ ràng, dầu chỉ là hơi thở suông thôi. Ta sẽ có
được sức khoẻ tốt, nếu ta biết thở
một cách thật thích nghi. Như thế, thân và những sự
vật liên hợp với thân -- như hơi thở, t́nh cảm, và sức khoẻ --
đều được xem như một đề tài
hết sức quan trọng. Tôi hi vọng tất cả các bạn sẽ thu lượm
được thật đầy đủ các lợi điểm về giai
đoạn nầy của Giác Niệm về Hơ i thở (Ànàpànasati).
Cảm thọ (vedanà): chặn
đứng sự quay cuồng.
Các cảm giác là đề
tài thứ nh́. Nếu bạn chẳng ư thức
đến các t́nh cảm th́ bạn sẽ
nghĩ là chúng chẳng quan hệ ǵ cả. Thật ra, chúng rất ư là quan
trọng đối với nhơn loại, v́
chúng có thể làm loài người quay cuồng theo ư chúng. Hơn thế nữa,
chúng c̣n làm cả thế giới quay cuồng theo. Dầu là cảm giác nào mà
ta đang mong muốn -- và mọi
người đều đầy cả khát vọng -- ta vẫn
bị thúc đẩy để đi đến những hành
động tương ứng với chúng. MọI người
đều chạy đuổi theo các cảm giác thích thú và lánh xa các
cảm giác khó chịu. Đấy là lư
do tại sao các t́nh cảm cứ khiến cho toàn thể thế giới nầy quay
cuồng măi. T́nh cảm con người là nguyên nhân tạo nên các sự phát
minh mới lạ, tân kỳ và những sáng tạo mà nhơn loại
đă sản xuất. Nghệ thuật, văn
hoá, và kỹ thuật được khám phá
và tạo dựng nên cũng bởi các t́nh cảm, có
đầy quyền lực mănh liệt
để ép buộc ta phải đi theo chúng.
Cảm thọ (Vedanà) gây ra ước muốn. Nhu cầu
được phát sanh cũng từ các cảm thọ và
chạy theo các cảm thọ. Rồi ta hành
động theo tiếng gọi của các ước muốn. V́ thế mà nhiều sự
việc đă xảy ra. Ngay cả việc
ta chạy theo tiền bạc cũng là để đáp
lại lời yêu cầu của t́nh cảm, cho dầu t́nh cảm
đó bắt nguồn từ nhục cảm hay t́nh
dục, hoặc giản dị hơn, từ cái cảm giác tầm thường là mong
được thoải mái.
Xin bạn hăy ráng t́m hiểu các sự việc ấy
đang ngự trị nhơn loại. Cảm
thọ (Vedanà) có quyền lực và ảnh hưởng mănh liệt phi
thường đến chúng ta. Nếu ta chẳng thể
kiểm soát được các t́nh cảm, ta sẽ thăng
trầm lên xuống theo nhịp thị hiếu bất thườg của chúng, tức
là sự khổ sở (dukkha). Và rồi ta sẽ nhắm mắt cứ hành
động theo các cảm thọ (vedanà),
hiện c̣n bị giam giữ trong sự vô minh (avijjà) và v́ thế,
mà chẳng được đứng đắn. Điều ấy cũng
giống như đối với loài súc sanh. Cả thú vật nữa, cũng chịu
sự thúc dục và hướng dẫn của các t́nh cảm; mọi hoạt
động cuả chúng cũng chỉ là
lùng kiếm và theo đuổi các cảm thọ
mong muốn. Con người cũng thế, lùng kiếm và chạy
đuổi theo các cảm thọ mà họ
mong cầu.
Ngay cả việc các bạn
đến khoá thiền tập ở Suan Mokkh nầy,
các bạn hi vọng t́m thấy chút ǵ có thể tạo nên cái cảm thọ
làm bạn vui thích. Phải chăng các bạn
đến đây để t́m thấy các căm giác thích thú, như sự yên tĩnh
và an hoà của tu viện, hoặc niềm vui về các giây phút trầm tư mặc
tưởng, hoặc bạn đă cố gắng t́m
cách lánh xa khỏi cảnh xáo trộn, tranh chấp, ưu tư và
đau khổ trên thế giới? Các cảm
thọ đó đưa đến mọi hoạt động và
tầm cầu; chúng thúc dục mọi cố gắng, nỗ lực. Thật vậy, chúng chính
là các chủ nhơn ông, các nhà độc tài,
đối với đời sống của chúng ta, đến
một mức độ hết sức là sâu rộng. Khi ta kiểm soát
được chúng, ta chẳng để chúng gây tác
hại đến ta. Khi ta chẳng đủ khả năng để kiểm soát chúng, ta trở nên
nô lệ của chúng. C̣n t́nh trạng nào bi thảm hơn nữa, khi phải làm
nô lệ cho các cảm thọ!
Có hai loại cảm thọ (Vedanà): cảm thọ
điền rồ bị ảnh hưởng của vô minh (avijjà)
và cảm thọ sáng suốt được trí huệ
minh triết (vijjà) chiếu soi
đến. Nếu ta tỏ ra điên rồ vào
lúc xúc (phassa, sự tiếp xúc giữa giác quan với
đối tượng) xảy ra th́ ta sẽ có
cảm thọ điên rồ. Nếu ta tỏ ra
khôn lanh và hiểu biết vào lúc xúc (phassa) xảy ra
th́ ta sẽ có được cảm thọ đứng đắn,
chơn chánh. Cảm thọ điền rồ đưa đến dục vọng c̣n si mê, mà
ta gọi là khát ái (tanha). Cảm thọ
đứng đắn đưa đến sự ham muốn đứng đắn,
đúng như những ham muốn chơn chánh mà ta cần phải nên ham
muốn. Ta phải nên cẩn thận giữ ǵn cho các cảm thọ
được luôn luôn đứng đắn. Cảm thọ điên
rồ đưa đến khát ái, rồi khát ái lại
lôi kéo ta chạy theo một khát ái điên rồ khác, hoặc theo
một ước muốn khá thông minh hơn. Khát ái có thể biến một ước muốn
chơn chánh trở thành ngu xuẩn. Khát ái
điền rồ lôi cuốn ta quay cuồng ṿng
ṿng, ṿng ṿng, măi chẳng biết bao nhiêu lần, thế mà ta vẫn ráng
sức chịu đựng với nó. Đôi khi, ta lại
muốn lên đến tận cung trăng!
Cho đến khi nào khát ái c̣n lưu lại
đó th́ chẳng bao giờ chấm dứt
mọi việc đến và
đi, các phát minh, các chế biến, các
khát vọng cho một cuộc đời xa hoa phù phiếm
đến bất tận. Lẽ tất nhiên,
việc kiểm soát các cảm thọ đưa đến
các lợi lạc thật vĩ đại. Bạn chớ để cho chúng làm khuấy
động lên các ước muốn và nhu
cầu điên rồ. Trong chiều hướng
đó, bạn nên quan tâm
đến các cảm thọ.
Tâm (citta): làm việc
đứng đắn.
Giờ đây, ta đến
với tâm (citta). Bạn đă
biết rơ và ư thức đầy đủ về tầm quan
trọng của tâm. Nếu chưa, th́ cuộc nghiên cứu của chúng ta
tại đây cũng chỉ được cho bạn thấy
tầm quan trọng ấy của tâm. Mặt khác, cũng như đối với
thân (kàya), và cảm thọ (vedanà), nếu tâm
chẳng được đứng đắn, th́ các
vấn đề khó khăn sẽ đặt ra ngay và
sự khổ sở (dukkha) sẽ xảy đến.
Ở mức tối thiểu, có ba việc ta cần phải thông
hiểu về tâm. Tùy theo chức năng mà
tâm thi hành, ta gọi tâm đó dưới ba tên
khác nhau. Khi nó suy nghĩ, ta gọi đó
là citta (tâm). Khi nó hay biết, ư thức về việc ǵ,
cảm giác hay thể nghiệm và biết rơ
đến điều ǵ, ta gọi là mano (cảm biết). Chức năng
căn bản ư thức tại ngưỡng cửa các giác quan để thấy, nghe, ngửi,
nếm, sờ và hiểu biết được gọi
là vinnàna (ư thức). Ta
đặt tiêu điểm lên chức
năng của tâm khi nó thi hành
nhiệm vụ của nó để đặt tên cho
nó: khi nó suy nghĩ, ta gọi là citta, tâm; khi nó hay biết,
ta gọi đó là mano, cảm biết;
và khi nó ư thức được các cảm
giác ở các giác quan, ta gọi đó là vinnàna, ư thức.
Khi tâm hoạt động
đứng đắn, th́ có nhiều kết quả tốt
đẹp, và cần phải kiểm soát tâm
để cho nó hoạt động thật đứng đắn.
Nếu ta chẳng kiểm soát được tâm th́ nó trở nên chẳng
đứng đắn. Khi nó thiếu đứng đắn th́
muôn việc đều hư hỏng cả, chẳng c̣n
ǵ sót lại trên thế gian nầy. Ta có thể nói thế gian nầy sở dĩ có
được là v́ chúng ta
đă có tâm. Nếu ta chẳng có tâm,
th́ có lẽ chẳng c̣n có thế gian nào nữa cả. Nếu ta tiếp tục kiểm
soát được tâm măi và an trú nó
trong chỗ đứng đắn, ta sẽ thâu nhận
được các hoa quả của sự yên tĩnh, vắng lặng, và hoà b́nh.
Thông hiểu đầy đủ về tâm để có thể
giữ măi tâm trong ṿng kiẻm soát,
đó là loại kiến thức tuyệt hảo
mà loài người cần phải biết khám phá ra
để hưởng lấy. Bạn phải nên lưu
tâm đặc biệt về vấn đề nầy.
Pháp (dhamma): hai sự kiện c ăn
bản.
Sau cùng, ta đến
với Pháp (Dhamma), hay là,
đến với Chơn Lư. Trong mọi sự vật, kể
cả những sự vật là chính chúng ta nữa, và những sự vật mà
chúng ta có liên hệ đến, đều có những
Chơn Lư mà ta cần phải hiểu thấu. Nếu ta chẳng hiểu
đến Chơn lư đó, hay đă hiểu
một cách sai lầm, th́ việc xử thế của chúng ta sẽ chẳng
được đứng đắn với các sự vật đó, với
đời sống của chúng ta. Điều nầy sẽ tạo nên nhiều vấn
đề khó khăn và sẽ
đưa tới sự Khổ sở (dukkha).
Toàn bộ rộng răi các kiến thức đó có
thể tóm lược lại thành ra hai
đề mục chánh: sự vật kép, phức tạp gọi là chư hành (sankhàra)
và các sự vật đối ngược lại, tức là
các sự vật đơn thuần, chẳng phức tạp.
Có lẽ các bạn đă học qua hai
đề mục nầy trong khoa Siêu h́nh học rồi, dưới danh xưng là
hiện tượng (phenomene) và bản thể (noumene).
Bản thể đối ngược với hiện tượng trên
nguyên tắc, nhưng cả hai lập thành một cặp
đôi. Nếu sự vật nào là một
hiện tượng, th́ nó phải là thể kép, phức tạp và biểu lộ ra sự thật
về vô thường (aniccam). Nếu một sự việc là bản thể th́ nó
thuộc vào thể đơn thuần, và
chẳng hề vô thường; trái lại, nó lại thường hằng (niccam).
V́ lẽ đó, ta nghiên cứu và học
tập về vô thường nơi muôn sư vật, cho
đến khi nào ta thông suốt được
lẽ vô thường thật thuần thục. Và rồi ta chẳng hề gắn bó,
ràng buộc vào bất cứ sự việc ǵ. Khi tâm trí chẳng c̣n bám níu vào
bất cứ đâu nữa th́ nó sẽ nhận
thức ra được cái lẽ thường hằng (niccam)
đă vượt qua khỏi sự vô thường,
tức là đến được với cái bản thể --
Niết-bàn (Nibbàna). Như thế, ta hiểu
được cả hai sự thực thực tế -- điều
hữu vi, bị điều kiện
hoá và điều vô vi,
chẳng bị điều kiện hoá -- và
đó là một sự quan trọng vào
bực nhứt. Đó là nguyên tắc tối
quan trọng. Sự thực tập về Pháp trong bộ bốn cuối cùng của
Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati) sẽ dẫn ta
đến hai sự kiện căn bản đó.
Trên đây là
cốt tủy của việc chúng ta nghiên cứu vể bốn lănh vực ấy, và các
kiến thức cùng lợi lạc mà sự nghiên cứu
đó mang đến. Đấy là tinh hoa
của Pháp Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati).
Bốn Pháp
đồng hành.
C̣n có bốn lợi ích trong việc thực tập Giác
Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati) nữa. Ta c̣n
được bốn điều mà tôi muốn gọi
đó là "bốn kẻ
đồng hành của Pháp". Tôi
đă tự tiện
đặt ra danh từ "đồng hành" nầy
để có thể giải thích, một cách dễ dàng
hơn. Bốn Pháp "đồng hành"
đó là sati, pannà,
sampajannà và samàdhi: giác niệm, bát nhă, phân biện
và định lực. Các
bạn c̣n nhớ ở bài pháp thoại đầu tiên,
tôi có nói, trong khi chúng ta sống trong cơi thế gian nầy, th́
bốn kẻ đồng hành
đó đă giúp ta chiến thắng
được mọi sự đe dọa. Với bốn kẻ đồng hành
đó ta có thể gạt bỏ được sự Khổ sở (dukkha).
Dầu đang ở trong tu viện hay ra sống
ở bên ngoài, chúng ta phải xử dụng
đến bốn kẻ đồng hành ấy
để mà sống. Trước hết, ta có
giác niệm (sati, ư thức hiểu biết). Khi một
đối tượng tiếp xúc vơi giác quan,
giác niệm (sati) có
đó và mang bát nhă (panna,
trí huệ) tới cho sự thể nghiệm. Một khi bát nhă (panna)
đă
đến, nó liền chuyển biến thành
sự phân biện (sampajannà, trí huệ
đang tác động, nghĩa là, phân
biệt ra được rơ ràng) tức là
sự ứng dụng của trí huệ vào một t́nh trạng
đặc biệt hiện có. Rồi, sức mạnh của
định lực (samàdhi, t́nh trạng tập trung tâm
ư) gia tăng lên
để trợ giúp cho sự phân
biện (sampajannà). Với sự phối hợp cộng tác của bốn
Pháp đồng hành
đó, ta có đủ khả năng để chinh phục
bất cứ đối tượng nào đến tiếp
xúc với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm. Bốn Pháp
đồng hành
đó là bốn kẻ thân tùy vô
địch đang hộ vệ chúng ta. Chúng canh
chừng và bảo hộ chúng ta tựa như một
đấng Thượng đế. Nếu ta biết thực tập
Giác Niệm về Hơi thở, ta sẽ thủ đắc được bốn Pháp đồng hành
đó.
Thực tập các chơn lư c ăn
bản.
Lợi ích kế tiếp là ta có
đủ khả năng để thực tập phù
hợp với nguyên lư paticca samuppàda, lư duyên sanh, hay là,
sự sanh khởi bị điều kiện hoá. Lư
thuyết về lư duyên sanh hết sức phức tạp và dài ḍng.
Đối với vài bạn c̣n chưa quen
với lư thuyết nầy, tôi xin nói vắn tắt, lư duyên sanh giải thích
nguyên nhân làm nguồn gốc phát sanh ra khổ sở (dukkha). Một
chuỗi dài các nguyên nhân, cái sau tùy thuộc vào cái trước,
đưa đến sự đau khổ. Đức Phật đă
giảng dạy đề tài nầy dưới
nhiều h́nh thức khác nhau, bởi v́ nó quá tế nhị và thâm sâu vô
cùng, khó cho ta hiểu thấu được. Xin
các bạn hăy nghiên cứu lư thuyết nầy. Nhưng
đến khi chúng ta bước vào việc
thực tập ứng dụng nó, th́ lại thấy lư duyên sanh rất giản dị, giản
dị đến mức tuyệt diệu. Nó cô đọng lại
ở chỗ nầy: có giác niệm (sati, sự tỉnh thức)
vào đúng lúc xảy ra sự tiếp xúc,
xúc (phassa), giữa
đối tượng và giác quan, và
giản dị có thế mà thôi. Xúc (phassa) là nơi gặp gỡ
giữa ba việc: (1) giác quan, (2) trước một
đối tượng ở bên ngoài và (3) ư
thức (vinnàna) tương ứng khởi lên ở bên trong nội tâm. Giản
dị có được giác niệm (sati)
vào đúng lúc xúc (phassa)
xảy ra th́ có thể giải quyết thoả
đáng và trọn vẹn tất cả mọi vần
đề của lư duyên sanh (paticca
samuppàda). Điều đó có nghĩa là,
trước khi sự sanh khởi bị điều kiện
hoá phát triển lên được, hăy
có ngay giác niệm tại đó, tại
chỗ xúc (phassa).
Đừng để cho xúc trở
thành mê muội. Đừng để cho một
xúc ngu muội kéo theo một cảm giác ngu muội và một
cảm giác ngu muội lại đưa đến sự
khát ái (tanha) cũng ngu muội nốt. Tất cả
đều ngưng lại tại chỗ đó. Đấy chính là
một lợi lạc khác của sự thực tập Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati).
Sự thực tập nầy khiến cho giác niệm (sati) trở nên
dồi dào, nhanh nhẹn và thiện xảo đủ
để làm tṛn nhiệm vụ vào đúng
lúc xúc diễn ra, hầu chận
đứng lại được ḍng nguyên nhân
trong lư duyên sanh (paticca samuppàda) ngay vào lúc
đó và ở tại chỗ
đó. Đây quả thật là một lợi
ích vĩ đại vào bực nhứt của
Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati).
C̣n một lợi ích nữa của sự thực tập Giác niệm
về Hơi thở là chúng ta thực hành được
theo đúng nguyên tắc nêu trong Bốn Chơn Lư Nhiệm mầu (Ariya
sacca) một cách đễ dàng và
trọn vẹn. Các bạn đều nghe nói đến và
hiểu rơ thế nào là Tứ Diệu Đế.
Tinh hoa của qui luật đó là
sự Khổ sở (dukkha) phát sanh ra từ sự khát ái (yanha)
ngu muội. Nếu ở đâu có sự
khát ái (tanha) th́ ở
đấy có sự khổ sở (dukkha). Khi ta có thể xử
dụng giác niệm (sati)
để chận đứng sự khát ái (tanha) và bẻ nó găy
đi, th́ chẳng c̣n khổ sở
(dukkha) nào nữa. Xuyên qua sự ngăn
ngừa nhằm chặn đứng sự thể nghiệm của các giác quan một cách si mê
nơi xúc (phassa), th́ một cảm thọ (vedanà)
ngu muội chẳng thể nào khởi lên và khát vọng (tanha) cũng
chưa bị khuấy động để nổi dậy được.
Đây là cách tốt nhứt và hữu ích nhứt
để thực tập về bốn Chơn Lư Nhiệm mầu.
Chận đứng được sự khát ái (tanha) bằng tốc
lực và mănh lực của giác niệm (sati)
được phát triển thêm nhờ vào
sự luỵện tập đầy đủ Pháp Giác niệm về
Hơi thở (Ànàpànasati) qua tất cả bốn bộ bốn các
bước thực tập.
Trái tim của Tam Bảo.
Một lợi ích xa hơn nữa của Pháp Giác Niệm về
Hơi thở (Ànàpànasati) là Pháp nầy
đưa ta đến gần được với ngôi
Tam Bảo (Ti ratana, Tam qui y, ba nơi nương tựa
trong Phật giáo). Đó là bởi v́
tinh hoa, hay cốt lơi, của Phật bảo, Pháp bảo, và Tăng
bảo (Đức Phật, Chánh Pháp
và Tăng già) nằm trong
t́nh trạng: thanh tịnh, trong suốt và an tịch. T́nh trạng
của Tâm (citta) đă
trờ nên thanh tịnh, trong suốt và an tịch,
đó chính là tinh hoa của Phật
Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo. Xin bạn hăy
thận trọng với ba tĩnh từ nầy: thanh tịnh, trong suốt và an
tịch. Đức Phật đâu phải chỉ là
một tấm thân h́nh hài vật chất; mà phải là một t́nh trạng tâm linh
có được tâm trí đạt đến mức
thanh tịnh, trong suốt và an tịch.
Đấy mới là
Đức Phật chân thật. Khi ta nh́n
thấy được Pháp, th́ ta
đă thấy
được Phật. Trái tim Chánh Pháp cũng là
thanh tịnh, trong suốt và an tịch. C̣n
đối với Tăng già (Sangha),
là những người, xuyên qua sự thực tập viên măn,
đă thể hiện
được tâm thanh tịnh, trong
suốt và an tịch. Cả ba tĩnh từ
đều rất là quan trọng. Người
đầu tiên đă thực hiện
hoàn toàn tâm thanh tịnh, trong suốt và an tịch như thế,
được gọi là "Đức
Phật"(Buddha), Chơn Lư
được thể hiện ra đó, được gọl là "Chánh Pháp"(Dhamma)
và những kẻ đă nương tựa theo
đó mà tu tập thành công,
được gọi là "Tăng
già"(Sangha). Khi ta thực tập Pháp Giác Niệm về Hơi
thở (Ànàpànasati) ta làm cho tâm ta trở nên thanh tịnh,
trong suốt và an tịch, như đă
được tŕnh bày chi tiết qua
các bài pháp thoại nầy. Các đức tánh
đó là hoa quả của sự vô chấp thủ (viràga,
chẳng bám níu, chẳng ràng buộc), sự
đoạn diệt (nirodha) và sự từ bỏ (patinissagga)
(từ bước thứ mười bốn đến
bước thứ mười sáu). Qua các bước
đó, có sự thanh tịnh, trong
suốt và an tịch đến với tâm và
do đó mà Ngôi Tam Bảo: Phật
Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo dễ dàng
thể hiện đến nơi tâm trí chúng ta.
Đấy lại là một lợi ích khác, chẳng ǵ vượt hơn nổi, của
Pháp Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati)
Nh́n vào toàn bộ Phật giáo.
Giờ đây, lợi lạc
tiếp theo là khi thực tập Giác Niệm về Hơi thở, ta
đang thực hiện được một nguyên
tắc căn bản nhứt trong Phật học, đó là
ba môn học vô lậu Giới Định Huệ
(Śla Samàdhi Pannà). Cả ba yếu tố nầy
đều có mặt đầy đủ trong việc thực tập
Pháp Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati). Cái quyết
tâm chẳng ǵ lay chuyển nổi để thực
tập, đó chính là Giới (Śla). Khi tâm trí
được đặt lên trên các hành
động đứng đắn, đó cũng là
Giới. Trong chủ ư quyết định cần
thiết cho sự thực tập mỗi bước của Pháp Giác Niệm về
Hơi thở (Ànàpànasati), đă
có một sự tŕ giới tự động, tự nhiên,
chẳng cần chúng ta phải minh thị biểu lộ ra bằng một hành
động đặc biệt nào. Rồi kế
đó là
định lực (samàdhi)
cũng hiện diện đến nữa. Bởi v́
đă có chủ ư quyết
định thực tập như thế, nên ta
sẽ thực tập măi cho đến khi đắc được
định lực khởi lên. Rồi th́ Bát nhă (Pannà)
phát triển theo, đặc biệt là ở
bộ bốn thứ tư, đó vốn là
trí huệ Bát nhă hoàn toàn nhứt. Nhờ thực tập
đứng đắn Pháp Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati)
mà nguyên tắc căn bản nhứt của Phật
giáo được thành tựu, đưa đến
sự viên măn tṛn đầy của
Giới Định Huệ.
Đấy là lợi lạc vĩ
đại của việc tu luyện theo toàn
bộ giáo lư của Phật học.
Khi nói tóm lược lại, th́ ta nói Giới
Định Huệ (Śla Samàdhi
Pannà). Nhưng khi nói cho đầy đủ
chi tiết, th́ ta nói đến bảy
yếu tố của Thất Giác Chi (Bojjhanga).
Đức Phật có tuyên bố rằng, khi
thực tập đầy đủ mười sáu
bước của Pháp Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati), ta
thực hiện được bốn lănh vực
của giác niệm (satipatthàna). Qua sự thực hiện toàn mỹ
bốn lănh vực của giác niệm: thân, cảm thọ, tâm và Pháp, tức
là nội dung của bốn bộ bốn (tetrads) trong Pháp Giác niệm
về Hơi thở, th́ bảy yếu tố của sự Giác ngộ (Bojjhanga, Thất
giác chi) cũng được hoàn
măn. Và rồi sự Giác ngộ hoàn toàn cũng
được bảo đảm. Thất giác chi
(Bojjhanga) chính là bảy yếu tố
đưa đến sự giác ngộ của bực A la hán
(Arahant), bực nhơn giả
đă giải thoát khỏi mọi khổ sở (dukkha). Phải mất
đến cả giờ để đi sâu vào các
chi tiết nầy. Giờ đây, tôi chỉ c̣n
thời giờ để nói lên danh xưng
của các yếu tố đó với các bạn mà
thôi: sati, dhammavicaya, viriya, piti, passaddhi, samàdhi
và upekkha (Giác niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỉ, khinh
an, định và xả).
Bảy yếu tố đó được đầy đủ một khi
Giác niệm về Hơi thở được hoàn tất. Một khi bảy yếu tố
đă
đầy đủ, th́ sự Giác ngộ hoàn
toàn đă
được bảo đảm rồi. Mặc dầu ta chẳng đủ
thời giờ để giải thích thêm nữa, nhưng xin các bạn hiểu cho
rằng bảy yếu tố của sự giác ngộ (Bojjhanga) là
điều chắc chắn đạt được một khi đă
thực tập hoàn măn Pháp Giác Niệm về Hơi thở. Lời tuyên bố của
Đức Phật được ghi rơ ràng
trong Kinh Tạng, các bạn có thể tự ḿnh kiểm chứng lại xem.
Niết-bàn tại
đây và
ngay bây giờ.
Giờ đây, ta đến
với một lợi ích tích cực thâu lượm được qua sự thực tập Pháp Giác
Niệm về Hơi thở. Đó là Niết-bàn ngay trong
đời nầy, chẳng cần
đợi chi đến chết. Tôi muốn nói,
Niết-bàn tại đây và
ngay bây giờ, tức là thứ Niết-bàn mà ta chẳng cần phải chết
rồi mới được, một thứ Niết-bàn
chẳng ăn nhằm chi đến cái chết cả.
Niết-bàn (Nibbàna) có nghĩa là "thanh lương",
là mát lạnh. Chữ Pali "Nibbuto" cũng có nghĩa là thanh
lương. Nếu đó là sự thanh
lương, mát mẻ tạm thời, chẳng kéo dài, và chẳng
được hoàn hảo, th́ ta gọi
đó là Nibbuto. Tuy
nhiên hương vị của nó cũng vẫn giống y với một Niết-bàn (Nibbàna)
hoàn hảo. Nibbuto cũng như là một mẩu hàng hoá mà người
thương gia đem ra để giới thiệu món hàng
mà ta sẽ thực sự mua. Cả hai phải giống nhau. Và
đây chúng tôi có một mẩu
Niết-bàn (Nibbàna) để mời
các bạn nếm thử trong chốc lát. Tôi gọi đó Niết-bàn tạm
thời, hay là sàmàyika nibbàna.
Sự thanh lương có thể là Niết-bàn (Nibbàna)
đang hiện khởi do "yếu tố đó".Trong
tiếng Pali, chữ "yếu tố đó" có nghĩa là một cái ǵ ngẫu
nhiên ("coincidental"). Thí dụ như, khi có giác niệm (Sati)
trong hơi thở, th́ tâm (citta) trở nên thanh lương.
Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati) chính là "yếu tố
đó", là tác viên, là nguyên
nhân, đă gây ảnh hưởng
đến sự thanh lương đó ở tại đây. Đó là
Niết-bàn tạm thời, tadanga nibbàna, một thứ Niết-bàn
ngẫu nhiên. Sự thanh lương khởi lên v́ khi chẳng c̣n có phiền
năo nữa, th́ tâm (citta) trở nên thanh lương. Khi
chẳng có lửa, th́ phải có sự mát nguội. Ở
đây Giác niệm về hơi thở (Ànàpànasati)
đă dập tắt các thứ lửa, tức là
các loại phiền năo. Mặc dầu đó chỉ là
tạm thời, lửa tắt và có sự mát lạnh trong một lúc.
Đó là Niết-bàn trong
một lúc, do nhờ ở "yếu tố đó", ở cái
dụng cụ đó, tức là Giác Niệm về Hơi thở. Mặc dầu trong chốc
lát, c̣n chưa được hoàn hảo và
vĩnh cửu, nhưng hương vị của Niết-bàn
đó cũng được thưởng thức như là
một mẩu của vị nếm thử. Giác Niệm về Hơi thở giúp chúng ta thưởng
thức được Niết-bàn chút chút,
mỗi lần một ít, lúc nầy qua lúc khác, trong suốt cuộc
đời ḿnh hiện nay. Và chẳng có
ǵ mà cần phải chết đi cả. Rồi th́
sự thanh lương lại kéo dài ra thêm nữa, nới rộng ra thêm nữa, và
càng lập lại càng nhiều lần hơn nữa, măi cho
đến khi đạt tới Niết-bàn
hoàn hảo. Đây là một sự
lợi lạc mà tôi xem như thật là thích thú nhứt và tích cực nhứt.
Mong các bạn có thể làm được như thế!
Xin bạn hăy chắc rằng ḿnh
đă hiểu rơ chữ Niết-bàn
(Nibbàna) cho thật đúng. Nó có
nghĩa là thanh lương, mát lạnh, chớ chẳng có dính dấp ǵ
với cái chết. Nếu có liên hệ với cái chết, như trong thường hợp sự
qua đời của một bực A la hán (Arahant),
th́ lại là chữ khác, Parinibbàna, Bát Niết-bàn. Riêng chữ
Nibbàna, Niết-bàn, chẳng có tiếp
đầu ngữ Pari, th́ chỉ
có nghĩa giản dị là thanh lương, sự vắng bóng của lửa nóng. Bạn
hăy tưởng tượng như tất cả muôn sự
đều trôi chảy êm thắm đối với
bạn, sức khoẻ dồi dào, kinh tế ổn dịnh và an toàn, gia
đ́nh hạnh phước, bạn bè thân
thương, và cḥm xóm láng diềng khả ái. Thế th́, cuộc
đời đó của bạn thật là thanh
lương, theo ư nghĩa của chữ Niết-bàn (Nibbàna). Có
thể cuộc đời đó c̣n chưa
được hoàn hảo, chưa phải là
Niết-bàn hoàn toàn, bởi v́ nó c̣n chờ
đợi có thêm một tâm hồn thanh
lương nữa để hoàn hảo, nhưng
dầu sao th́ cũng đă là thanh
lương rồi vậy.
Chữ Niết-bàn (Nibbàna) mang ư
nghĩa thanh lương. Nó có thể được dùng
đến để chỉ các sự vật vật chất. Một ḥn
than cháy nóng bỏng đang nguội dần,
được gọi là đang "vào
Niết-bàn". Khi một tô súp nóng, dần dần nguội bớt
đi, ta có thể nói, tô súp đó đă
Niết-bàn vừa đủ để ăn được rồi.
Chữ Niết-bàn (Nibbàna) c̣n có thể dùng trong
trường hợp các dă thú hung ác và nguy hiểm bị bắt trong rừng
đem về nuôi dưỡng, huấn luyện cho
thuần tánh để trở thành các thú vật nhà. Các dă thú
đó cũng được gọi là
đă Niết-bàn. Trong các văn
kinh Pali, cũng chữ Niết-bàn nầy
đă
được dùng cho cả các sự vật
vật chất, thú vật và con người. Nếu có cái chi
đang thanh lương, mát mẻ, chẳng chút
nóng bức, th́ đó là
Niết-bàn theo một nghĩa nầy hay một nghĩa nọ. Chúng ta sẽ nhận
được một lợi lạc thật là thoả
thích nhứt về Niết-bàn -- thanh lương nơi thân thể, thanh
lương nơi tâm thần, thanh lương về mọi mặt -- qua sự thực tập Pháp
Gíac niệm về Hơi thở (Ànàpànasati).
Nói tóm lại, ta có
được cuộc sống thanh lương ngay tại đây và vào lúc nầy, tức
là Niết-bàn, theo các nghĩa vừa
được giải thích ở trên. Trong
tiếng Pali, tiếng Nibbuto có nghĩa là " một người trở nên
thanh lương", hoặc là "một người đă
có được Niết-bàn" (Nibbàna).
T́nh trạng đó là Niết-bàn,
Nibbàna. C̣n con người đang trong
t́nh trạng đó là
Nibbuto.
Hơi thở cuối cùng.
C̣n nhiều lợi lạc khác nữa của Pháp Giác niệm
về Hơi thở (Ànàpànasati), nhưng kể ra hết
đây th́ mất cả giờ, khiến cho
tôi là người nói, và các bạn là người nghe, rất khó cho chúng ta
theo dơi hết được. Tuy nhiên,
xin được phép đề cập đến một đề tài
chót: ta sẽ biết rơ được hơi thở cuối
cùng của đời ta; tức là
ta sẽ biết được vào hơi thở
nào th́ ta sẽ chết. Điều nầy chẳng có
nghĩa là chúng ta có thể chọn
được lúc nào ta sẽ lià đời. Đó
chỉ có nghĩa là qua sự thực tập thật là thuần thục của
chúng ta về Pháp Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati), chúng
ta đă trở nên thiện xảo với
hơi thở. Chúng ta sẽ tức khắc biết ngay liền là ta sẽ chết hay
không vào cái hơi thở đang thở nầy.
Rồi chúng ta có thể tiên đoán
được hơi thở cuối cùng của đời
ta. Đây là một lợi lạc rất đặc
biệt là biết được hơi thở cuối
cùng của đời ḿnh.
Đức Phật có tuy ên bố rằng, chính Ngài
đă
đắc được Chánh đẳng Chánh giác (anuttara
sammàsambodhi) qua sự thực tập Pháp Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati).
V́ thế, tôi rất hoan hỉ để ân cần
giới thiệu với các bạn ở đây và ở khắp nơi,
để muôn người đều biết rơ
đến Pháp nầy mà thực tập.
Đức Phật đă thành Phật nhờ
thực tập Pháp Giác Niệm về Hơi thở nầy. Như thế, Ngài
đă hiến tặng Pháp ấy cho chúng
ta như là một hệ thống tốt nhứt để
thực tập. Ngài chỉ dạy cho chúng ta biết xử dụng sự thực
tập nầy v́ sự an lạc của chúng ta, v́ sự an lạc cho các kẻ khác,
và v́ sự an lạc của tầt cả mọi người. Chẳng c̣n cách nào khác hay
hơn là thực tập Pháp Giác Niệm về Hơi thở. Mong các bạn hăy cẩn
thận lưu tâm đến nó.
Cuộc thảo luận của chúng ta về sự quán tưởng
Pháp Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati bhàvanà) kể như
đến đây đă khá
đầy đủ. Xin được phép chấm dứt tại
đây bài pháp thoại chót.
-ooOoo-
Phần Phụ Lục
Phụ lục 1
N ăm
nhu yếu của đời sống
(Trích đoạn bài
pháp thoại ngày 02-09-1987)
Những ai khinh miệt và ghê tởm quỉ Sa tăng,
sẽ t́m thấy tên quỉ sứ nầy dưới h́nh thức của sự ích kỷ.
T́nh cảm ích kỷ ma quái đó gài
bẫy con người vào đống rác khổ sở (dukkha),
cứ thúc dục mọi người phải quay cuồng măi giữa
đống rác khổ sở ấy. Sự ích kỷ khiến
cho xă hội, đúng ra là,
cả thế giới, phải quay cuồng măi chung quanh sự khổ sở. Trong t́nh
trạng như thế, c̣n có ǵ đáng được
lưu giữ lại? V́ thế, thật là khẩn thiết cho chúng ta phải
tẩy sạch vết nhơ đó ra khỏi các hành
động và thái
độ của chúng ta.
Muôn pháp (dhamma)
đều rỗng không (sunnatà).
Niết-bàn là cơi hư không tối thượng. Trái tim, tinh hoa,
của Phật giáo chỉ là việc chấm dứt sự ích kỷ. Chẳng c̣n ǵ khác
nữa cần phải làm thêm. Mặc dầu sự giải thích có dài ḍng và rắc
rối, nhưng tóm gọn cô đọng lại chỉ là
sự "quét sạch ích kỷ" mà thôi. Ta học tập về Chánh Pháp (Dhamma)
cũng chỉ để thấu hiểu được điểm nầy.
Ta thực tập quán tưởng để thanh tịnh hoá tâm ư cũng là
để rửa sạch tất cả sự ích kỷ. Đặc
biệt nhứt là Giác niệm về Hơi thở (Anàpànasati), vốn
là một hệ thống được đề ra để tận trừ
sự ích kỷ. Ta cần phải nên lưu tâm thật cẩn thận về vấn
đề nầy và thực tập cho
đến thành công mỹ măn. Mục
đích của chúng ta đến Suan Mokkh nầy
là để nghiên cứu và
thực tập việc dứt trừ ích kỷ.
Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati)
đưa đến sự thông hiểu tường tận về
những ǵ có liên quan đến các
vấn đề sau đây:
- biết rơ sự ích kỷ;
- biết rơ nguồn gốc của sự ích kỷ;
- biết rơ sự chấm dứt được sự ích
kỷ;
- biết rơ con đường phải
theo để chấm dứt sự ích kỷ.
Mục tiêu của Giác niệm về Hơi thở là biết rơ
tấm thân nầy như thế nào và cái tâm nầy như thế nào.
Biết rơ thế nào là các cảm thọ (vedanà),
đă lừa gạt chúng ta ra sao
để trở nên ích kỷ. Và biết rơ
chơn lư của mọi sự vật, biết rằng chúng chẳng có một "tự thể" nào,
rằng chúng ta chớ nên xem sự vật nào như là có "tự ngă". Rồi th́,
hăy buông bỏ cái "tự ngă" đi, đó cũng
như đang triệt tiêu được ma
lực bẩm sanh của sự ích kỷ. Và kết quả là, chẳng c̣n lậu
hoặc, chẳng c̣n phiền năo và mọi vấn
đề khó khăn của chúng ta cũng chấm dứt, và ta
đă dập tắt
được sự Khổ sở (dukkha).
Các vấn dề khó khăn của chúng ta đă
chấm dứt một cách rơ ràng khi chúng ta
đă chắc chắn nhận thấy rơ sự
chấm dứt đó. Đó là cả hệ thống
của Giác Niệm về Hơi thở được tŕnh
bày ra đấy. Các bạn có thể tự ḿnh
nh́n thấy nhu cầu cần biết đến và
thực tập Pháp đó, để tạo nên
một "cuộc sống mới", một cuộc sống vượt thoát khỏi ma lực của sự
ích kỷ. Xin các bạn hăy lưu tâm đặc
biệt đến vấn đề đó.
Lối sống .
Để có thể thực tập Pháp Giác Niệm về Hơi thở ( Ànàpànasati)
được kết quả mỹ măn, một vài
sự điều chỉnh rất cần thiết về lối
sống hằng ngày của ta. Lối sống của bạn và sự thực tập Pháp
Giác Niệm về Hơi thở có liên hệ nhau thật chặt chẽ. V́ lẽ
đó, ta cần phải nên bàn luận
thêm về lối sống đó, để có thể hỗ trợ
cho việc nghiên cứu Chánh Pháp (Dhamma) và sự thực
tập quán tưởng về tâm (bhàvanà citta). Xin phép
được bàn luận rơ thêm về
đề mục quan trọng nầy.
Đề mục nầy l à Paccaya, các
điều kiện. Chữ Paccaya
của tiếng Pali (và của tiếng Thái nữa) có nghĩa tương
đồng với chữ condition
trong Anh ngữ, mặc dầu nơi chữ Paccaya c̣n có vài ư nghĩa
tế nhị hơn đôi chút. Tuy vậy, danh từ
được dùng đây là vấn
đề phụ thuộc, chính ư nghĩa của nó
mới thật sự là quan trọng, chắc các bạn cũng tự ḿnh nhận
ra được như thế. Các
Paccaya, điều kiện, là
những sự việc thật cần thiết cho đời
sống; và do đó mà
đôi khi chúng được gọi là
những "nhu yếu hay đ̣i hỏi
khẩn thiết của đời sống". Chúng là
những yếu tố của đời sống, trợ giúp
cho sự hiện hữu của đời sống. Các nhu yếu đó, các cơ sở của đời
sống đó, cần phải được hiểu rơ thật
đúng đắn, nếu chúng ta muốn nghiên
cứu Chánh Pháp (Dhamma) và thực tập quán tưởng cho có kết
quả tốt. V́ thế, tôi xin các bạn hăy chú ư
đến vấn đề quan trọng nầy.
Nhiều người chỉ biết
đến các điều kiện vật chất, hay là
t́nh trạng của tấm thân, nên họ cứ tin rằng chỉ có vơn vẹn bốn
điều nhu yếu: thực phẩm, y phục, nhà
cửa, và thuốc men. Chỉ biết có bốn nhu yếu
đó mà thôi, theo tôi thiễn
nghĩ, đó thật là
điên rồ. Ta c̣n phải biết
đến một nhu yếu thứ năm nữa, cái
paccaya, điều kiện
hoặc t́nh trạng của tâm trí. Bốn nhu yếu
đầu tiên chỉ thuộc về tấm thân
vật chất mà thôi. C̣n nhu yếu thứ năm
liên quan đặc biệt đến t́nh
trạng của tâm, chính là những ǵ làm cho tâm
được vui thích và khuyến khích
tâm trí hăy hân hoan lên. Ta có thể gọi
đó là "sự tiêu khiển"
(entertainment) nhưng tôi chẳng được
chắc cho lắm rằng đó là một danh từ chính xác ở
đây.
Bạn biết ư nghĩa của mà tôi muốn nhấn mạnh
đến, một khi bạn cứu xét sự vô cùng
cần thiết phải làm thế nào để có được
chút ǵ khiến cho tâm được vui
vẻ phấn khởi lên và thoả thích trong một chiều hướng
đứng đắn. Nếu chẳng có được điều đó,
th́ có lẽ sẽ là một sự chết -- cái chết của tâm hồn. Khi
các nhu yếu về vật chất thiếu thốn, th́ tấm thân thể chất nầy phải
chết. Và khi nhu yếu tâm linh mà khiếm khuyết
đi th́ tâm hồn cũng sẽ chết
lịm. Vậy xin bạn hăy t́m hiểu cho rơ cả hai loại nhu yếu, vật chất
và tinh thần, bốn điều trước và
một điều sau. Tất cả có đủ năm nhu
yếu. Ngay đây, tôi đặt chú tâm vào nhu yếu thứ năm,
cái paccaya, điều kiện,
quan trọng vào bực nhứt,
đủ để nuôi dưỡng và bảo tŕ cho tâm trí. Chúng ta sẽ nghiên
cứu thêm đầy đủ chi tiết, một khi các
bạn đă biết rơ có bốn nhu yếu về vật chất và một nhu yếu về
tinh thần.
Các nhu yếu về vật chất.
Xin hăy bắt đầu
ngay chỗ cần phải khởi sự: nhu yếu thứ nhứt là thực phẩm.
Ta phải dùng thực phẩm đúng thật là
thực phẩm. Đừng dùng các thực
phẩm chỉ là "mồi". Sự phân biệt chủ yếu giữa thực phẩm và "mồi"
cần được hiểu rơ cho tường tận.
Ta dùng thực phẩm là để nuôi sống
cuộc đời ḿnh. C̣n ta đi ăn
các "mồi" là v́ sự khoái khẩu. Mồi th́ khiến chúng ta trở
nên ngu muội, nên ta cứ cắn mồi măi một cách
điên rồ, tựa như loài cá
đớp mồi ở các lưỡi câu. Ta phải nên
dùng các loại thực phẩm nào thật sự bổ dưỡng cho cơ thể, và ta
cũng nên ăn uống cho có độ lượng. "Ăn
mồi" có nghĩa là ăn cho khoái
miệng và v́ thích ư. Các mồi lại thường
đắc tiền. Xin ngưng lại, đừng đớp mồi
nữa, và hăy dùng các thực phẩm lành mạnh và thich nghi.
Đừng dùng thực phẩm như những
miếng mồi, nhứt là trong thời gian các bạn có mặt tại khóa thiền
nầy.
Nếu bạn chỉ biết
ăn "mồi", và chỉ ăn mồi mà
thôi th́ bạn sẽ đói bụng suốt ngày,
suốt đêm. Rồi lại lẻn ra ngoài
t́m mồi để đớp. Ăn mồi sẽ làm
hao ṃn các khả năng tinh thần của ta.
Tâm trí bị khuất phục trước mồi ngon và chẳng c̣n
đủ khả năng để nghiên cứu và
thực tập về Chánh Pháp (Dhamma) (...) Khi dùng thực phẩm,
bạn nên ăn đúng thời và có
độ lượng. Như thế, th́ sẽ giảm
bớt được sự phí phạm và sự
nguy hại.
Đi ều kiện thứ hai là y phục. Xin bạn
ăn mặc sao cho đúng với ư nghĩa và
mục tiêu của y phục: (1) có sức khoẻ tốt, (2) che chở chống lại
các bất tiện nghi và khỏi bị khuấy rối, (3) tiện lợi và giản dị,
(4) hợp với văn hoá. Xin bạn hăy
mặc các y phục tiện lợi, giản dị và là dấu hiệu của văn
hoá. Xin đừng ăn mặc các kiểu y phục phá hoại nền văn hoá của ḿnh
hay của kẻ khác. Điều đó chẳng thích
nghi cho chính ḿnh mà cũng là một kẻ thù làm trở ngại cho
sự an tĩnh tâm hồn. Xin bạn hăy lưu tâm cứu xét
đến vấn đề y phục, paccaya,
điều kiện, nhu yếu thứ hai
nầy nữa.
Điều kiện thứ ba l à nhà cửa. Nhà cửa
phải thích nghi, khiêm tốn và chẳng nên quá
đáng. Ngày nay, trong dân gian
người ta thích những ngôi nhà quá mức nhu cầu, tốn kém quá cao,
tạo thêm nhiều khó khăn rắc rối và
đưa đến lắm âu lo. Như thế, nhà
cửa là một nguồn gốc của sự ích kỷ. Khi thực tập về Chánh pháp,
nơi cư trú thích hợp nhứt là ở gần Thiên nhiên, gần
đến mức mà ta có thể gọi là "làm
bạn với Thiên nhiên". Tôi lại phải nói rằng, ít khi thấy người Tây
phương sống ngoài trời, trên băi cỏ, thân cận với Thiên nhiên. Họ
thích sống ở những nơi đẹp đẽ, cầu kỳ
và đắc tiền. Họ thấy cần phải
ở khách sạn, và dường như chẳng buồn biết chi
đến các trại tạm cư đón khách ở dọc
đường.
Thân thiết với Thiên nhiên .
Xin bạn hăy thử hoà ḿnh vào một chút ǵ mới mẻ,
sống tại các nơi cư trú gần với Thiên nhiên. Sống gần Thiên nhiên
khiến cho việc hiểu biết và thực tập Chánh Pháp
được dễ dàng hơn. Xin bạn hăy
tập thích thú và hân hoan với lối sống b́nh dị, thô sơ bên cạnh
Thiên nhiên. Điều nầy sẽ mang lợi ích
đến cho bạn và yểm trợ bạn rất nhiều trong việc thực tập.
Phật tử chúng ta noi gương của
Đức Phật về vấn đề nầy. Đức Phật khi
sanh ra, ở ngoài trời; đắc
giác ngộ ở ngoài trời; ngồi giảng dạy trên băi cỏ ở ngoài
trời; sống ngoài trời; ngủ nghỉ ngoài trời và tịch diệt (Parinibbàna,
nhập Bát Niết-bàn) cũng ở ngoài trời. Chúng ta thấy cuộc
đời của Ngài rất thân thiết
với Thiên nhiên. Chúng ta lấy gương
đó làm tiêu chuẩn cho chúng ta, và biết bằng ḷng với lối
sống đơn sơ, b́nh dị
đó. Tôi tin rằng các nhà lănh
tụ những tôn giáo lớn trên thế giới
đều thực hiện một lối sống đơn sơ như thế, mặc dầu tôi chẳng thể
nói chắc rằng họ đă làm được
suốt đời họ như Đức Phật đă làm: sanh ra ở ngoài trời, giác
ngộ, hoằng dương đạo pháp, sống và
tịch diệt cũng đều ở ngoài
trời cả.
Vậy nên ta cần có một lối sống thật thân thiết
với Thiên nhiên, rất tiện lợi cho Thiên nhiên
để nói "thỏ thẻ" với ta khá nhiều
việc. Nếu ta biết lắng nghe một cách thông minh, ta sẽ nghe được
tiếng nói của Thiên nhiên rơ ràng hơn là khi ta ở măi tận
xa. Tinh hoa lối sống của ta là sự thân thiết với Thiên nhiên vậy.
Trong ngôn ngữ Thái lan, các tĩnh từ "điều
độ" và "đầy đủ"
có thể c̣n mơ hồ, xin các bạn hăy hiểu
đến các ư niệm đó theo như tôi đă
giải thích ở trên. Và chúng ta cũng nên thận trọng với các tĩnh từ
"phủ phê", "ngon lành": khi nói đến
một cuộc sống quá đầy đủ, lối "sống phủ phê", ’khi
bàn đến các vật thực thật khoái khẩu,
"thức ăn ngon lành".
Chúng ta đâu cần chi đến lối sống phủ
phê, hay thức ăn ngon lành
đến quá mức. Ta thích sống vừa đủ, và
ăn vừa ngon thôi, nghĩa là,
thật đứng đắn. Tất cả bốn loại nhu
yếu vật chất đều đặt trên nguyên tắc
đầy đủ và thích nghi.
Đừng để bị lôi khéo theo cái đẹp hào
nháng, cái đẹp quá mức mà
thành ra xa hoa, chẳng được thích
đáng và nhă nhặn. Xin hăy hiểu rơ bốn
điều nhu yếu về vật chất một cách
đứng đắn như vậy.
Nhu yếu tâm linh.
Giờ đây đến nhu
yếu thứ năm, cái nhu yếu mà ta cần bàn
đến nhiều. Điều kiện, Paccaya, thứ
năm nầy là điều quan trọng
nhứt. Đó là điều đă ru
êm ta, tiêu khiển ta, làm ta bằng ḷng, khiến ta hết ưu tư, bớt
xao động, giúp ta hết bị đói khát ...
cho đến chết. Vui đùa với tâm, khiến cho tâm thoả măn và
hân hoan, đó là
điều chủ yếu, là
điều hiện, hay nhu yếu tinh thần. Ta
có thể gọi đó bằng nhiều danh xưng khác nhau, như tiêu
khiển (entertainment) hay giải trí (amusement),
tôi chẳng biết chắc được danh từ Anh
ngữ nào cho đúng, nhưng việc
ấy chẳng quan hệ mấy. Điểm quan trọng là
điều đó phải thật thích hợp với tâm.
Nó phải là thực phẩm cho tinh thần, nuôi dưỡng tinh thần,
chẳng khác chi bốn nhu yếu kia đă
bồi dưỡng cho cơ thể. (...)
Thông thường, với
đa số các người thế tục, cho đến mức mà tôi c̣n có thể nói
đến được, đều xem nhu yếu thứ năm nầy
như là một vấn đề về t́nh
dục (sex). Xin hăy t́m thấy cho rơ sự khác biệt. T́nh dục
là một loại sự việc có thể làm tiêu khiển (entertain) tâm
trí, nhưng giờ đây chúng ta đang sẵn
sàng lấy Pháp (Dhamma) làm thú tiêu khiển tinh thần.
Điều đó có nghĩa là chúng
đang dùng sự thích nghi
để thỏa măn tinh thần chúng ta.
Một khi chúng ta ư thức được sự đứng
đắn, và thoả măn với sự đứng
đắn nầy, một khi chúng ta cảm thấy thích hợp và bằng ḷng,
th́ tâm trí đă
được đùa vui và tiêu khiển rồi.
Cái cảm giác đứng đắn và bằng
ḷng đó, đâu có dính dáng ǵ
với t́nh dục.
Ngôi nhà phía sau lưng chúng ta
đây được mệnh danh là "Sân
khấu của thú tiêu khiển tinh thần". Nó
được xây dựng lên
để làm thú tiêu khiển cho tâm
trí. Nó được trang hoàng với
thật nhiều h́nh ảnh để giảng dạy
Chánh Pháp (Dhamma) cũng như
để giúp vui và giải trí.
Đấy là một h́nh thức của nhu
yếu thứ năm. Xin các bạn hăy
t́m hiểu về loại paccaya, nhu yếu thứ năm
nầy, vốn có liên hệ nhứt với Chánh Pháp, chớ
đâu phải với t́nh dục. Xin bạn
đừng chạy theo số đông để phải quên
rằng t́nh dục bị chẹn giữa các khó khăn
phức tạp đến bất tận, và cứ
đeo níu vào t́nh dục như là một nhu yếu thứ năm.
Nói tóm lại, chúng tôi thỉnh cầu các bạn hăy
điều chỉnh lối sống lại, sao cho phù
hợp với sự nghiên cứu và thực tập quán tưởng về tâm (citta
bhàvanà). Rồi ra, các bạn sẽ thấy việc thực tập
được tiện lợi và thành công dễ
dàng. Và các bạn sẽ khám phá ra được
"Lối Sống Mới" vượt qua khỏi ảnh hưởng của các chủ nghĩa tích cực
và tiêu cực. Về chi tiết xin hăy
đợi một thời gian sau, v́ vấn
đề rất tế nhị, và v́ Lối Sống
Mới siêu việt cả mọi vấn đề khó khăn
và mọi h́nh thức của sự Khổ sở (dukkha).
Đó là lối sống tự do, tự tại,
giải thoát, và giải phóng, bởi v́ chúng ta
đang thực tập Chánh Pháp với sự nâng
đỡ và yểm trợ của tất cả năm
loại nhu yếu. Xin nhớ, bạn hăy làm sao cho năm
loại nhu yếu nầy trở nên thật
đứng đắn và thích nghi.
-ooOoo-
Phụ lục 2
Thế nào là Giác Niệm về hơi thở?
(Trích đoạn bài
Pháp thoại ngày 05-04-1987)
Trước nhứt, xin biết cho rằng có rất nhiều hệ
thống và phương pháp về Vipassanà, Minh sát (sự quán tưởng
để nhận thức được vô thường, khổ sở và
vô ngă) dưới các danh xưng khác nhau. Tuy nhiên, trong tất cả loại
đó, chúng tôi chuộng nhứt một hệ
thống gọi là Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati).
Đây là một hệ thống
đào luyện tinh thần (quán
tưởng) được chính Đức Phật khuyến
khích thực tập. Ngày nay, có nhiều
đạo sư nầy, thiền sư nọ, về Minh sát,
ở khắp mọi nơi; nào là hệ thống Miến
điện, hệ thống Tích lan, hệ thống
Thái lan, đủ cả. Chúng tôi chẳng được hiểu rơ hết tất cả
các hệ thống đó, mà chỉ lưu
tâm đến Giác Niệm về Hơi thở thôi. Ta
có thể nói Giác Niệm về Hơi thở là một hệ thống của Phật.
Nó chẳng phải là một hệ thống riêng biệt ǵ của Suan Mokkh;
đúng ra, Suan Mokkh đă
đem hệ thống đó ra thực tập rồi giảng
dạy và truyền lại cho các người khác.
Vậy xin ân cần giới thiệu với các bạn hệ thống
Giác Niệm về Hơi thở, đang được xử
dụng tại (thiền viện) Suan Mokkh.
Ngay cả trong phương pháp thực tập
được gọi là Giác Niệm về Hơi
thở (Ànàpànasati) cũng có nhiều h́nh thức giản lược khác
nhau, ngắn gọn, dễ dàng và chẳng đầy
đủ. Có nhiều thứ khác nhau, nhưng chúng tôi đă chọn một
h́nh thức đầy đủ. V́ thế, nó
có thể xem như dài và lắm chi tiết, nhưng lại thích hợp với những
ǵ đầy đủ, như trường hợp h́nh
thức Mười sáu bước thực tập của Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati).
Vài người lắc đầu cho đó là
quá dài, quá nhiều, hoặc quá rườm rà chi tiết, quá mức cần dùng
của họ. Điều đó cũng đúng, nó có thể
có phần dư thừa đối với vài người. Nhưng với những ai muốn
nghiên cứu và tập luyện cho hoàn toàn, th́ nó cũng vừa vặn
đủ thích hợp với họ. Nếu muốn có được
một kỹ thuật thật trọn vẹn, ta phải học cả mười sáu bước.
Đây là một
đ̣i hỏi của Thiên nhiên. Nếu
lưu tâm đến sự toàn vẹn, th́
ta cần phải bền chí để tập luyện và
thực hành Giác Niệm về Hơi thở trong h́nh thức
đầy đủ của nó. Và h́nh thức
đầy đủ th́ cần phải theo
đủ mười sáu bước.
Niệm xứ chính là Giác Niệm về Hơi thở.
(Satipatthanà là Anàpànasati).
Một vấn đề thông
thường khác nữa là, có vài người cứ bám níu và bị kẹt cứng
một cách quá đáng vào danh từ
Satipatthàna (Niệm xứ, bốn cơ sở (= xứ) của giác
niệm, hay là bốn lănh vực của sự tỉnh thức). Vài kẻ lại c̣n
đi xa hơn và cho rằng Giác
Niệm về Hơi thở chẳng dính dáng ǵ với bốn niệm xứ (= bốn
lănh vực của giác niêm, hay của sự tỉnh thức). Vài người lại bác
bỏ thẳng thừng Giác Niệm về Hơi thở. Tại một vài nơi, người ta
đeo dính chặt vào danh từ
Satipatthàna, Niệm xứ, thật ra đó
chỉ là một bản liệt kê dài thậm thượt về các danh xưng, các
pháp môn. Mặc dầu nơi đó có rất nhiều
pháp môn, nhưng chẳng hề có nổi một đường hướng nào
để thực tập, đă
được giải nghĩa rơ ra cả. Chữ
Satipatthàna, Niệm xứ, thường
được hiểu theo ư nghĩa như vậy đó. Thế rồi người ta tu chỉnh lại,
sắp xếp lại vào các cách thực tập như vầy, như kia,
để gọi các "hệ thống mới" đó là
quán tưởng về Niệm xứ, là Satipatthàna. Những kẻ tu
tập theo các kỹ thuật đó lại phủ nhận
và khinh bỉ ngay cả đường lối
của Giác Niệm về Hơi thở, bảo rằng đó chẳng phải là Niệm
xứ, Satipatthàna. Thật ra, Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati)
chính là tinh túy của Niệm xứ, là trái tim của
Satipatthàna, là cốt lơi của cả bốn lănh vực của Giác Niệm,
của sự tỉnh thức. Mười sáu bước của Pháp Giác Niệm về Hơi
thở là sự thực tập rơ ràng và trực diện, chớ chẳng phải là một bản
liệt kê các danh xưng hay các pháp môn như trong bản Kinh
Đại Niệm Xứ (Trường
Bộ Kinh, Kinh số 22) (Mahàsatipatthanà Sutta, Digha Nikaya,
22). V́ thế, chúng ta đừng để ḿnh
rơi vào sự hiểu lầm rằng Giác Niệm về Hơi thở (Ánàpànasati)
chẳng phải là Niệm Xứ (Satipatthàna); bằng không
chúng ta sẽ mất hết cả hứng thú khi nghĩ rằng pháp
đó sai lầm. Bất hạnh thay sự hiểu lầm
vẫn c̣n phổ biến. Xin được
phép nhấn mạnh lần nữa, Giác Niệm về Hơi thở chính là tinh
hoa của bốn lănh vực của giác niệm, tức là trái tim của Tứ Niệm xứ,
dưới một thể dạng có thể đem ra thực
hành ngay được.
Chúng tôi đă
dành khá nhiều thời giờ để cứu xét
các danh từ Satipatthàna, Niệm xứ và Ànàpànasati,
Giác Niệm về Hơi thở, cũng chỉ v́ muốn phá bỏ các sự hiểu lầm
có thể đưa đến các thái độ quá hẹp ḥi
đối với lối thực tập của người khác.
Vậy xin cứ hiểu cho rằng, dầu nói đến Niệm xứ (Satipatthàna)
hay là Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati) th́ cũng chỉ có
bốn lănh vực quan trọng là: thân (kàya), cảm thọ
(vedanà), tâm (citta) và Pháp (Dhamma)
mà thôi. Tuy nhiên trong Kinh Đại
Niệm Xứ (Mahàsatipatthàna Sutta) chẳng thấy có lời
giải thích về cách thực tập như thế nào bốn lănh vực
đó. Kinh nầy chỉ đưa ra các danh xưng
về pháp môn và khai triển chúng ra thôi. Thí dụ như, vấn
đề thân (kàya)
chỉ nói rộng đến sự quán tưởng về
niệm (sati sampajannà) về các hoạt
động thường ngày, về các tư
thế (oai nghi) và các điều khác,
nhiều đến mức khó nhớ cho hết được. Kinh chỉ liệt kê các
nhóm sự vật (dhamma) có liên quan
đến bốn lănh vực
đang được cứu xét.
Mặt khác, Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati)
đă chỉ thật rơ ràng làm thế
nào để thực tập bốn lănh vực
đó theo một tiến tŕnh tiệm
tiến để rồi chấm dứt vào sự
giải thoát ra khỏi mọi Khổ sở (dukkha). Mười sáu bước
thực tập tác động lên bốn
lănh vực, mỗi lănh vực làm phát triển lănh vực trước và yểm trợ
cho lănh vực sau. Khi thực tập đầy đủ
mười sáu bước, th́ tinh hoa của Niệm Xứ (Satipatthàna)
sẽ khởi lên một cách hoàn măn. Tóm lại, Kinh Tứ Niệm Xứ (Satipatthàna
Sutta) chỉ là một bản liệt kê các danh xưng; c̣n Kinh Giác
Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati Sutta) có chỉ dạy cách thức
thực tập bốn lănh vực của Niệm xứ, chẳng có chi là dư thừa, hay
thêm thắt nào cả. Kinh nầy chẳng hề nêu lên một vấn
đề mà chẳng có liên hệ
đến.
Thể dạng cô
đọng .
Nếu vài người cảm thấy mười sáu bước thực
tập quá nhiều, th́ cũng được đi.
Có thể cô đọng mười sáu bước
đó lại thành hai bước
thôi:
1- Bước thứ nhứt -- huấn luyện tâm
(citta) cho đến mức thuần
thục tập trung được vào định
lực một cách thích nghi.
2- Bước thứ hai -- với
định lực (samàdhi)
đó, liền nhẹ nhàng bước nhảy
qua sự quán tưởng về vô thường (aniccam), khổ
sở (dukkham) và vô ngă (anattà) ngay.
Chỉ có hai bước
đó, được thực tập với mọi hơi thở vào
và mọi hơi thở ra, nên cũng gọi là Giác Niệm về Hơi thở nữa. Nếu
bạn chẳng thích mười sáu bước thực tập hoặc nghĩ rằng chúng
quá lư thuyết, hoặc quá nhiều để học
tập, hoặc có lắm chi tiết, th́ bạn cứ tập thử hai bước
vừa nói đó. Hăy giữ tâm
(citta) tập trung vào định
lực bằng cách quán sát hơi thở. Khi bạn cảm thấy định lực đă
khá đầy đủ rồi, th́ hăy quan
sát đến các sự vật mà bạn
đă có kinh nghiệm và
đă biết rơ,
để bạn có thể nhận thức ra rằng chúng
đều là vô thường đến
mức nào, bất toại nguyện
đến độ nào, và vô ngă
đến cấp nào, chẳng có linh hồn
như thế nào. Cũng chỉ có bấy nhiêu đó
cũng là đă
đủ để đạt đến kết quả -- tức là,
từ bỏ hết, buông bỏ hết, chẳng c̣n bám níu chút nào nữa hết! Và
sau cùng, ghi nhận sự chấm dứt của lậu hoặc (kilesa, phiền
năo) và sự tận diệt của chấp thủ (= bám níu), khi vô thường,
khổ sở và vô ngă (aniccam dukkham anattà)
đă
được trông thấy ra thật là rơ
ràng rồi. Vậy, bạn cứ dùng đến thể
dạng cô đọng trong hai bước nầy, nếu bạn có ư muốn
làm như vậy.
Tuy nhiên, chúng tôi muốn bạn hiểu rơ về hệ
thống thực tập đầy đủ. V́ lẽ
đó chúng tôi nói đến mười
sáu bước thực tập. Một khi bạn đă
hiểu rơ tất cả mười sáu bước
đó thật đầy đủ, th́
các bạn có thể tự ḿnh rút gọn chúng lại. Cứ việc giảm bớt
đi, cho đến khi nào bạn
được thoả măn
đầy đủ để thực tập Pháp đó một cách
thật là tự tín. Bạn có thể thực tập tóm lược thành hai, hay
năm bước, hoặc cách nào
mà bạn thấy thích hợp với bạn. Đấy là
đường lối mà chúng tôi giải
thích Pháp Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati) tại
đây. Chúng tôi sẽ giải thích nó một
cách trọn vẹn; rồi tùy ư bạn muốn rút ngắn lại như thế nào
mà bạn thích.
Do đó, chúng ta sẽ
nghiên cứu và giải thích trọn vẹn Mười sáu bướcthực tập
thật đầy đủ, v́
đường lối nầy sẽ phát hiện được các
bí ẩn của Thiên nhiên qua một phương pháp có
đủ các đặc tánh khoa học. Đây là
một khoa học mà đối tượng là
sự hiểu biết một cách tự nhiên về các sự vật
được gọi là thân (kàya),
cảm thọ (vedanà), tâm (citta) và
Pháp (Dhamma), theo một
đường lối tốt nhứt và đầy đủ
nhứt, xuyên qua viễn tượng và phương cách khảo sát của một
khoa học thiên nhiên. Đây là
một phương pháp khoa học có thể điều
chỉnh được bốn việc. Trước nhứt hễ nghiên cứu tất cả
mười sáu bước rồi, bạn có thể lược bỏ bớt lại theo ư bạn muốn.
Hăy chọn bước nào mà bạn thấy cần. Chỉ thực tập hai, hoặc
ba bước, nếu bạn muốn. Và chỉ giữ kỹ lại hai, hoặc năm
bước tùy theo ư thích. Nhưng giờ dây, xin bạn cho
phép tôi được giải thích đầy đủ trọn
vẹn mười sáu bước thực tập.
Quán tưỏng về Thân (Kàya nupassanà).
Mười sáu bước thực tập
được chia ra làm bốn bộ bốn
(four tetrads), tương ứng với bốn niệm xứ, tức là bốn
đối tượng căn bản của việc nghiên
cứu. Giờ đây, chúng ta sẽ bàn
luận đến bộ bốn về
thân, tức là sự quán tưởng về thân (kàya nupssanà).
Trong bộ bốn nầy, việc đầu tiên
bạn phải nghiên cứu và hiểu rơ, là hơi thở. Hiểu biết tất cả các
loại hơi thở, các tánh chất, đặc điểm
và ảnh hưởng của chúng. Hăy t́m biết mọi khía cạnh, mọi
phương diện của một hơi thở đứng đắn.
Nói cho gọn lại là bạn phải có
được một pràna đứng đắn.
Pràna là một iếng Phạn; tương
đương với chữ Pàna
trong tiếng Pali. Thông thường, chữ ấy có nghĩa là "sự sống", hoặc
là "sanh lực", hoặc là "cái điều ǵ
đang bảo tồn và dưỡng dục sự
sống". Chúng ta cần phải có điều đó
thật đứng đắn. Chúng ta cần phải có pràna lành mạnh
và đứng đắn. Rồi th́
đời ta mới được an hoà. V́ lẽ
đó, cho nên ta phải nghiên cứu
kỹ lưỡng về đề mục hơi thở nầy.
Ở Ấn độ, mỗi
trường phái du già (yoga) -- và có
đến cả chục trường phái du già
như thế -- đều có riêng một
lối huấn luyện liên quan đến
pràna, chẳng kể bất cứ trường phái nào. Các lối huấn luyện
đó được gọi là prànayàma,
có nghĩa là "sự kiểm soát về pràna", hoặc là "sự kiểm
soát về hơi thở". Có khả năng kiểm
soát được hơi thở có nghĩa là có khả năng
kiểm soát được đời sống. Khi pràna
đi vào, nó
được gọi là àna; khi nó
trở ra, th́ được gọi là
apàna. Hiệp hai chữ lại, ta có ànàpàna, tức là,
pràna vào (nhập tức= hơi thở vào) và pràna ra (xuất
tức= hơi thở ra). Có khả năng để
kiểm soát pràna là có khả năng
kiểm soát được sự vật đi vào
để bảo tồn sự sống. Rồi th́ ta mới có
được đời sống tươi mát và hân
hoan, sẵn sàng và thích ứng cho việc huấn luyện và thực tập. Sự
huấn luyện pràna như thế cũng
được t́m thấy trong nền Phật học. Bạn sẽ thấy rằng sự huấn
luyện pràna (Prànayàma)
đă được lấy ra làm
đề mục thứ nhứt của Pháp Giác Niệm về
Hơi thở (Ànàpànasati).
Điều đó chẳng có ǵ là chống
đối chút nào với các nguyên tắc của chúng ta. Thật ra, Pháp
Giác Niệm về Hơi thở vẫn đứng vững
trước bất cứ hệ thống trường phái du già nào. Hơn thế nữa,
Pháp Giác Niệm về Hơi thở c̣n cải tiến cả các hệ thống trường phái
đó. Với kỹ thuật quán tưởng
về thân (kàya nupassanà), chúng ta xử dụng
đến sự huấn luyện pràna
(Prànayàma) của tất cả các trường phái du già của Ấn
độ, cải tiến chúng, phát triển thêm
cho hoàn hảo, để trở thành một
h́nh thức huấn luyện về pràna (Prànayàma) thích ứng
nhứt, và thực tiễn nhứt. Đó chính là
sự quán tưởng về thân (Kàyanupassanà),
đề mục thứ nhứt của việc chúng ta
đang nghiên cứu.
Nếu chúng ta chỉnh
đốn cái thân pràna (thân hơi, tức là hơi thở
vào và ra) cho được hoàn
mỹ, khiến nó trở nên tốt đẹp, lành
mạnh và yên tĩnh, th́ nó sẽ làm cho tấm thân thể chất nầy cũng trở
nên tốt đẹp, lành mạnh và yên
tĩnh. Cái thân hơi đó có đủ
khả năng tạo nên mối an hoà to lớn và yên tĩnh cho cuộc
đời nầy. Đó là lư do tại sao
ta cần phải nên hiểu rơ cả hai thân (kàya): tấm
thân bằng xương thịt và tấm thân hơi (hơi thở). Thế rồi
chúng ta sẽ khiến chúng trở nên tốt
đẹp cho đến khi nào thấy có
được sự hoàn mỹ, sự an hoà và sự an tĩnh. Chữ "tốt
đẹp" ở đây có nghĩa là "thích
nghi và phù hợp để được xử dụng trong
việc hoàn tất các công tác và nhiệm vụ."
Đề mục cuối c ùng của bộ bốn thứ nhứt
là sự an định thân hành,
tức là làm cho vật bảo mạng của thân (tức là pràna,
thân hơi) được trở nên an hoà
và yên tĩnh. Làm được như thế, th́
sự an tĩnh sẽ khởi lên nơi tấm thân thể chất. Tâm (citta)
cũng cảm được sự an tĩnh đó và
nó cũng trở nên an tĩnh theo. Nhờ đó
mà tâm mới sẵn sàng hoàn tất
được các nhiệm vụ của nó sau nầy. Đề
mục về thân, giản dị cũng chỉ có thế. Nếu bạn chẳng
muốn biết đến chừng ấy, th́
cũng tùy ư bạn, nhưng sự kiện thực tế
đều đúng là như vậy; bạn đâu
mất đồng xu nhỏ nào để hiểu
đến chúng. Bạn càng hiểu rơ chúng chừng nào th́ sự thực tập
càng mang lợi lạc nhiều đến cho bạn
chừng ấy. Rồi có thể là bạn sẽ
được hưởng thọ về cuộc đời nầy đến mức tối đa. V́ lẽ
đó mà ta phải bắt
đầu học tập về thân (kàya)
như là bộ bốn thứ nhứt của mười sáu bước thực tập.
Xin bạn hăy nghiên cứu kỹ lưỡng sự thật thiên
nhiên sâu xa nầy: thân hơi (pràna) là tác
viên gây điều kiện ảnh hưởng (conditioner)
đến tấm thân thể chất. Bạn phải biết
rơ có hai thân (kàya), hoặc là hai giai tầng
của thân (Kàya). Mọi người
đều biết rơ giai tầng thứ nhứt
tức là tấm thân thể chất, và chẳng hiểu chi nhiều về giai tầng thứ
hai, tức là thân hơi (pràna). V́ thế, việc
t́m hiểu rơ về thân hơi là việc rất quan trọng, bởi v́ nó
đưa tới việc có được một tác viên
gây ảnh hưởng tốt cho tấm thân vật chất. Ở Ấn
độ, việc huấn luyện pràna
(prànayàma, sự huấn luyện hơi thở)
được xem như là một
đề mục cao nhứt và cần thiết
nhứt để nghiên cứu. Mặc dầu
các lời giải thích của các trường phái có khác nhau, và mỗi trường
phái có lối cắt nghĩa riêng, nhưng sau cùng, tất cả
đều cô đọng lại ở điểm nầy: điều
chỉnh hơi thở (pràna) như thế nào
để cho nó gây ảnh hưởng tốt đến tấm
thân vật chất theo ư ta mong muốn. Bạn nên học tập và huấn
luyện hơi thở cho khéo để có thể dùng
được nó mà
điều kiện hoá tấm thân thể chất.
Chúng ta đâu thể nào trực tiếp
điều chỉnh tấm thân thể chất được, nhưng chúng ta vẫn có thể điều
chỉnh nó một cách gián tiếp. Ta học hỏi về thân hơi
(pràna) và thực tập cách
điều chỉnh nó. Có đủ khả năng để điều
chỉnh thân hơi cũng tương
đồng với việc điều chỉnh tấm thân thể
chất, như ư ta cần đến, tức là, làm cho tấm thân xương thịt
trở nên an hoà và yên tịnh.
Chúng ta gắng phát triển sự hiểu biết cho
đến khi nào chúng ta có
đủ khả năng để điều chỉnh được
thân hơi (pràna). Rồi chúng ta dàn xếp thế nào
để có được một tấm thân thể chất tốt
đẹp, lành mạnh, sẵn sàng hỗ trợ cho tâm (citta)
đi vào
định lực. Như thế, cả hai
thân và tâm đều được chuẩn
bị để thực hiện các nhiệm vụ riêng của chúng.
Đấy là tất cả những ǵ bộ
bốn thứ nhứt đang bàn
đến. Nó có đủ các đặc điểm, mục tiêu
và đường lối thực tập như thế đó. Xin
bạn hăy cứu xét đến nó cho cẩn
thận. Có cần thiết làm như vậy không? Có
đáng công sức hay thời giờ để nghiên
cứu và thực tập như thế không? Nếu bạn thấy rơ
đó là
điều tốt nhứt mà ta có thể làm,
rằng đó đáng cho ta bỏ công ra để cố
gắng, th́ bạn nên dấn thân trọn vẹn vào việc nghiên cứu và
thực tập nầy cho đến ngày
thành công viên măn. Đó là
cách làm cho có được điều tốt đẹp
nhứt về sự huấn luyện hơi thở -- prànayàma của Phật
học -- xuyên qua sự thực tập về quán tưởng minh sát (Vipassanà
bhàvanà)(=sự đào luyện về
tỉnh thức, hay là sự trực nhận).
Quán tưởng về các Cảm thọ (Vedanà nupassanà)
Giờ đây, chúng ta
đến với sự quán tưởng các cảm thọ (Vedanà nupassanà).
Chúng ta cần phải nên biết về qui chế các cảm thọ là có ma lực,
xấu ác. Thật khó kiếm được chữ để mô
tả chúng cho đầy đủ. Cảm thọ th́ xấu ác, là bọn ma quái gây
nên sự tổn hại, hết sức thấp hèn, những tên
đểu cáng đă gây ra các khủng
hoảng trong đời ta. Chúng ta làm
nô lệ cho các cảm thọ. Mọi người đều
làm việc cực nhọc chỉ v́ để có
được đồng tiền cung phụng cho các lạc thọ (sukha
vedanà, các cảm giác thích thú) Các cảm thọ
đó là chủ nhân ông của chúng
ta. Chúng là bọn ma quái xấu ác luôn luôn làm cho ta lầm lộn, tạo
những khó khăn cho ta, và làm
cho đời ta thêm rắc rối, vất
vả. Ta cần phải biết rơ các cảm tho (vedanà); v́ thế,
ta chọn các cảm thọ làm đề tài
học tập thứ hai của Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati).
Phải chăng các bạn
đă rời Âu châu, Mỹ châu, hay bất cứ nơi nào mà bạn cư trú,
để đến đây, ở Suan Mokkh nầy, hầu t́m
ra một thứ lạc thọ (sukha vedanà)? Có
đúng vậy không? Ngay cả khi c̣n
ở Âu Mỹ, các bạn đă làm việc
cũng chỉ là để trưởng dưỡng các
lạc thọ (sukha vedanà). Nay, các bạn
đến Suan Mokkh nầy là
để t́m những
điều kiện thuận tiện, hay những
phương tiện nào để có cho được
lạc thọ. Chúng ta là nô lệ cho các cảm thọ, nhứt là
các lạc thọ, vào tất cả mọi thời. Giờ
đây là lúc nên t́m cách hiểu biết cho thật rơ ràng về các
cảm thọ để có thể kiểm soát được
chúng.
Trong một vài văn
kinh của hệ Pali, chữ vedanà, cảm thọ,
được mô tả như là những tâm
hành (citta sanhkhàra), (the conditioners of the
mind, tức là, những yếu tố tạo nên
điều kiện gây ra ảnh hưởng đến Tâm). Tâm, ở đây, là những
ǵ khởi lên từ các tư tưởng, ham muốn và nhu yếu. Ta
đâu có thể nào chịu
đựng măi ảnh hưởng của các cảm
thọ, chúng ta cần phải suy nghĩ lại, tại sao phải hành
động dưới quyền lực của cảm thọ, hay
theo ư nghĩa của các cảm thọ. Chúng ta c̣n chưa có
được tự do bên trong chúng ta,
chúng ta c̣n bị rơi vào quyền lực của các cảm thọ. Cảm thọ thúc
đẩy chúng ta phải hành
động. Chúng ép buộc tâm, điều kiện
hoá tâm (= gây ảnh hưởng đến tâm) phải suy nghĩ và hành
động theo đúng quyền lực của chúng.
Nếu chúng ta làm chủ
được cái cảm thọ cao cả nhứt, tuyệt
đỉnh nhứt, th́ rồi chúng ta cũng có thể làm chủ các cảm thọ
thấp hơn, thô thiển hơn, nhỏ bé hơn. Khi
đă kiểm soát
được việc khó khăn nhứt rồi, th́
việc kiểm soát các cảm thọ nhỏ, giản dị, ấu trĩ, cũng dễ dàng thôi.
V́ lẽ đó, ta nên cố gắng
đạt đến một giai tầng cao cấp nhứt
trong các cảm thọ, tức là, các cảm thọ khởi phát từ
định lực (samadhi). Rồi
các bạn hăy lấy các cảm thọ cao đó làm
thành một bài học, để có thể chinh
phục được chúng. Một khi ta đă chinh phục
được các cảm thọ cao đó rồi th́
chúng ta cũng chiến thắng được luôn
tất cả các cảm thọ khác. Bạn có muốn thấy cần tập thử một lần xem
ra sao chăng? Bạn sẽ phải chịu đựng những khó khăn nào sắp
khởi lên? Bạn có nên đầu tư thời giờ
quí báu của bạn vào việc thực tập nầy chăng?
Xin bạn hăy b́nh tâm nghĩ lại cho chín chắn.
Có thể bạn thấy thật là "ngộ nghĩnh" khi bạn
phải cố gắng chinh phục cho được các
cảm thọ cao quí đó, rồi thay v́ hưởng thọ, thưởng thức,
thích thú nếm lấy hương vị của chúng, th́ bạn lại phải kiểm soát
chúng, giết chúng, và tận diệt chúng
đi. Có lẽ vài bạn thấy như thế là buồn cười! Có người lại
tưởng đó chỉ một câu chuyện khôi hài,
cố t́m cho được một cảm thọ thật cao
quí rồi chỉ để kiểm soát được nó và
để giết tiêu nó luôn
đi! Xin các bạn hăy thận trọng
suy nghĩ lại cho kỹ và cho chín chắn về
điểm nầy. Bù lại việc giết
chết một cảm thọ thật cao quí đó,
chúng ta sẽ thủ đắc được một cái ǵ c̣n cao cả hơn, hoàn mỹ
hơn, hơn cả cái cảm thọ cao quí trước
đó. Chúng ta sẽ được một thứ cảm thọ đặc biệt, ở một giai tầng cao
xa hơn, cho đến nổi ta chẳng thể gọi đó là một cảm thọ nữa,
mà là một chút ǵ tựa như Niết-bàn (Nibbàna), hay là
sự giải thoát. Vậy bạn chớ nên xem
đó là một tṛ
đùa, hay một câu chuyện khôi
hài, cái công tác mà ta đă bỏ
công ra đi t́m kiếm và
để rồi lại giết chết hết đi các cảm
thọ cao quí đó.
Quán tưởng về Tâm (Citta nupassanà)
Bộ bốn thứ ba là sự quán tưởng về tâm (citta
nupassanà). Mục tiêu của bộ bốn nầy là t́m hiểu thật rơ
các loại tâm và biết được chúng ra
như thế nào. Rồi chúng ta sẽ huấn luyện tâm sao cho nó biết
đi theo con đường đứng đắn mà
đáng lẽ lúc nào nó cũng phải
theo như thế. Ta thanh lọc tâm, gom tâm ư tập trung lại và thúc
đẩy tâm hoạt động. Ta khiến tâm trở nên
một loại tâm thích ứng và sẵn sàng để
hoàn tất các nhiệm vụ cao cả của nó. Tâm phải
được đặt trong t́nh trạng luôn
luôn sẵn sàng để thi hành các
bổn phận c̣n lại của nó, nhứt là việc tiêu trừ sự khổ sở (dukkha).
Trong bộ bốn nầy, chúng ta nghiên cứu về tâm cho
đến lúc nào ta có thể
đặt nó dưới quyền kiểm soát của ta.
Rồi chúng ta sẽ xử dụng tâm ấy để thi hành nhiệm vụ kế tiếp
c̣n cần phải hoàn tất, cho đến khi
chúng ta đạt tới được một mức cao nhứt về bổn phận.
Quán tưởng về Pháp (Dhamma nupassanà)
Bộ bốn thứ tư là sự quán tưởng về Pháp (Dhamma
nupassanà), liên quan đến sự
thông hiểu thấu suốt về tất mọi sư vật mà chúng c̣n
đang bị lệ thuộc vào. Ư nghĩa
của việc nầy rất quan trọng. Hiện giờ, chúng ta cứ bám níu vào sự
nầy, vật nọ, khiến chúng ta trở nên nô lệ của các sự vật
đó. Do đó, chúng ta cần phải t́m
biết sự thật về các sự vật để có thể
chấm dứt t́nh trạng lệ thuộc của chúng ta vào chúng.
Đó là ư nghĩa của việc quán
tưởng các Pháp (Dhamma nupassanà). Hăy t́m biết cho rơ ràng
Sự thật về các sự vật mà chúng ta c̣n
đang bám níu vào. Phải biết rơ Sự thật
đó cho đến khi nào tâm biết
buông bỏ mọi bám níu (= cố chấp, chấp thủ), cho
đến khi mọi sự bám níu c̣n
vướng lại đều tan rả hết.
Trên đây là
những điều mà ta cần thông
hiểu về sự quán tưởng về Pháp Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati
vipassanà), với mục tiêu là loại bỏ tất cả mọi vấn
đề khó khăn, chỉ để cho ḿnh
khỏi bị thành một tên nô lệ cho bất cứ sự vật ǵ trên cơi thế gian
nầy nữa, và để cho ḿnh có thể
sống một cuộc đời thanh lương và
an hoà đến mức tuyệt đỉnh. Ngay trong
cơi đời nầy, đă có sự
thanh lương, và đó là hoa quả
của việc thực tập. Pháp nầy chính là chiếc xe
đưa ta đến sự thanh lương của cuộc
đời, một đời sống tươi mát; đấy chính là sự minh sát
(Vipassanà) được thực tập theo
đúng với các nguyên tắc của Pháp Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati).
-ooOoo-
Phụ lục 3
Quán tưởng về
Định lực
trong Phật giáo
(Trích đoạn bài
pháp thoại ngày 1987 05 05)
Có rất nhiều h́nh thức, thể dạng và hệ thống về
sự Quán tưởng về Định lực.
(Samàdhi bhàvanà). Hôm nay, tôi muốn bàn luận về sự
quán tưởng về Định lực (Samàdhi
bhàvanà) được Đức Phật giới thiệu
và khuyến khích. Đề tài
nầy được kết tập trong Tam Tạng Kinh
điển, hệ Pali (Tipitaka), dưới cả hai h́nh thức giản
lược và chi tiết về lời giải thích. Chúng tôi gọi
đó là sự Quán tưởng
Định lực của Đức Phật. Sự
quán tưởng nầy chẳng phải là hệ thống của Miến
điện, hay của Trung Hoa, hoặc của
Tích lan mà ngày nay chúng ta thường quí chuộng. Nó cũng
chẳng phải là hệ thống nào của một vị Hoà thượng nầy, thiền sự nọ,
đạo sư kia mà lắm người thường
bị dính chặt vào. Lại cũng chẳng phải là hệ thống của Suan Mokkh
hay của bất cứ tu viện nào. Nó chẳng hề giống với bất cứ h́nh thức
pháp môn mới mẻ nào của ngày nay. Trái lại,
đó là
đường lối chơn chánh mà
Đức Phật đă giảng dạy và
khuyến khích tu tập theo. Ngài tuyên bố h́nh thức quán tưởng về
Định lực nầy chính là
đường lối mà Ngài
đă theo
để đạt đến sự Giác Ngộ Hoàn
Toàn. Chúng tôi sẽ đặc biệt nói
riêng về hệ thống của sự quán tưởng về
Định lực
đó.
Đây là hệ thống quán tưởng về
Định lực được biết đến dưới danh xưng
Ànàpànasati bhàvanà, hay vắn tắt và giản dị hơn, là
Ànàpànasati, Giác Niệm về Hơi thở. Tất cả có cả thảy là
mười sáu bước thực tập, hay là mười sáu
đề mục được đem ra thực tập. Dường
như có vài người chẳng thích và than phiền rằng có quá
nhiều bước, quá nhiều đề mục
cho họ học tập. Về điểm nầy, tôi thấy cần phải nhấn mạnh rằng, Đức
Phật chẳng bao giờ giảng dạy những ǵ nhiều hơn sự cần
thiết, hoặc những ǵ c̣n chưa đầy đủ.
Tức là, mười sáu bước của Giác Niệm về Hơi thở chẳng
hề quá nhiều hoặc quá ít cả. Nếu bạn có
đủ kiên nhẫn
để thực tập cả mười sáu bước, bạn sẽ
có được một hệ thống trọn vẹn. Nếu bạn chẳng đủ sức để thực tập
như thế, th́ vẫn c̣n có một thể dạng tóm lược cũng khá
thích hợp cho những người c̣n ... lười.
Thể dạng rút gọn cho người thường.
(...) Chúng tôi xin chỉ lấy những ǵ vừa
đủ cho người thường, mà chúng
tôi gọi đó là "phương pháp
được rút gọn". Cốt lơi của
phương pháp nầy là tâm tập trung vào
định lực một cách thích hợp, vừa đủ, mà người thường có thể
làm được, và rồi dùng cái tâm
tập trung đó để quán sát vô
thường khổ sở vô ngă -- ba đặc
tướng của muôn pháp (aniccam dukkham anattà) --
cho đến khi nào nhận thức
được rơ ràng tánh không
(sunnatà) và như thị (tathatà).
Với sự thực tập nầy, thường nhơn cũng thâu nhận
được như thường các lợi lạc của
định lực. Họ sẽ thâu hoạch
được kết quả đầy đủ về sự tận diệt Khổ sở (dukkha),
nhưng sẽ chẳng có các đức tánh đặc
biệt cộng thêm vào đó. Dầu sao
th́ các đức tánh đặc biệt đó
cũng chẳng cần thiết. Vậy th́, bạn cứ tập trung tâm ư
đi vào
định lực đủ để tiến lên việc
quán sát vô thường, khổ sở và vô ngă. Như thế, chỉ cần thực
tập bộ bốn thứ nhứt của Pháp Giác niệm về Hơi thở
đầy đủ, rồi th́ thực tập tiếp
đến bộ bốn thứ tư, cũng
đầy đủ nữa. Và chỉ có thế mà
thôi! "Đầy đủ" th́ chẳng phải
là nhiều quá, mà cũng chẳng được trọn
vẹn đâu, nhưng cũng đă đủ tốt
lắm rồi. Đấy là thể dạng rút gọn dành cho thường nhơn.
Giờ đây, chúng ta
xét đến việc thực tập bộ bốn thứ nhứt. Hăy thở sao
cho hơi thở thật tế nhị và khiến cho toàn thân thể trở nên tế nhị,
tức là, thanh lương và yên tĩnh. Chỉ cần bấy nhiêu thôi
đă
đủ cho tâm vừa đủ khéo léo để đi vào
quán tưởng minh sát (Vipassanà). Và rồi tâm
đạt đến giai tầng có thể quán tưởng
về vô thường, khổ sở và vô ngă (aniccam dukkham
anattà); cả ba đặc tướng nầy
thường thể hiện qua mọi bộ phận, cơ quan, thành phần trong
cơ thể. Đặc tướng vô thường, bất toại
nguyện và vô ngă của mọi cơ quan, bộ phận trong thân thể
chúng ta -- vừa thể chất lẫn tinh thần --
được quán sát cho đến khi nào
nhận thức ra được đặc tướng
như thị (tathatà). Khi
đặc tướng như thị
đă
được nom thấy thật rơ, th́
chúng ta hết c̣n bị rơi dưới quyền lực của nhị nguyên (dualism)
nữa. Như thế cũng đă
đủ rồi. Đủ được chừng ấy cũng khiến
ta vượt lên, càng ngày càng cao hơn,
để đi sâu vào các Pháp cho
đến khi nhận thức được điểm tuyệt cao.
Đấy là phương pháp giản lược cho thường nhơn; những ai c̣n
sống trong gia đ́nh, cũng có
đủ khả năng để thực tập được chừng ấy.
Thể dạng hệ thống
đầy đủ của Đức Phật
Giờ đây chúng tôi
xin nói đến hệ thống mà chính
Đức Phật đă thực tập và giải thích.
Đây là hệ thống
đầy đủ, hoàn toàn, khác với
thể dạng rút gọn; tức là h́nh thức có
đầy đủ cả bốn bộ bốn của Pháp Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati).
Xin bạn hăy kiên nhẫn để nghe. Bạn có
thể có đủ khả năng để hiểu được đôi chút và như thế cũng
đủ để đem lại lợi lạc cho bạn. Nếu
chẳng may bạn c̣n nghĩ rằng nó quá dài, hay dư thừa, th́
chắc là bạn c̣n chưa thực sự hiểu rơ
được chi cả.
Chúng ta thở, và thở nhiều hơi thở khác nhau
để quán sát t́m hiểu mỗi loại
hơi thở thực sự đang tiếp diễn ra.
Chúng ta cũng hiểu rằng hơi thở hỗ trợ và phục dịch cho tấm
thân vật chất. Điều nầy đă
được biết rơ như thế, tự ngàn
xưa, ngay cả trước khi Phật giáo xuất hiện trên thế gian. Có thật
nhiều phương pháp huấn luyện hơi thở (prànayàma)
được thực tập trước thời Đức Phật.
Khi Đức Phật thị hiện ra đời, Ngài lấy sự huấn luyện hơi
thở, prànayàma, đem cải tiến
lại để trở thành hệ thống quán tưởng Giác Niệm về Hơi thở.
Chúng ta điều chỉnh cuộc sống và
thân thể qua hơi thở. Do đó mà
có bốn bườc thực tập: (1) ư thức
được hơi thở dài, (2) ư thức
được hơi thở ngắn, (3) ư thức được
hơi thở đă điều hoà
thân thể như thế nào, và (4) quán tưởng theo
đường lối nào mà hơi thở trở
nên êm dịu, để khiến cho thân thể
được an tịnh. Đó là bốn bước thực tập.
Đâu có nhiều chi lắm, phải không? Tại
sao lại chẳng thử tập xem? Bạn hăy quán sát cho thật t́nh
và nghiên cứu cho chân xác theo một
đường lối khoa học. Rồi th́ mọi việc sẽ chẳng có khó khăn
chi nữa cả.
Sự kiểm soát hơi thở (prànayàma) c̣n có
nhiều lợi điểm khác chẳng dính dáng
với tôn giáo hay Chánh Pháp (Dhamma). (...) Bạn có
thể làm cho đời bạn dài thêm
ra hơn mức b́nh thường, nhờ sự kiểm soát hơi thở. Hay là bạn có
thể làm cho bạn chết, ngay cả vào hôm nay nữa. Bạn có thể chết
được ngay vào bất cứ hơi thở
nào bạn muốn, qua sự kiểm soát hơi thở. Bạn có thể có
được hơi thở tốt đẹp và lành
mạnh cùng với một thân thể tốt đẹp và
lành mạnh, qua sự kiểm soát hơi thở. Bạn có thể chơi thể thao, lái
xe, làm việc ở văn pḥng, hay
bất cứ việc ǵ bạn muốn, nếu bạn có thể
điều chỉnh hơi thở của bạn, tức là
pràna, theo đúng đường lối phù
hợp với các mục tiêu của bạn.
Chúng tôi muốn các bạn biết rơ rằng Giác Niệm
Hơi thở c̣n có đủ các lợi điểm bên
lề đó, ngoài phạm vi giáo lư
và tôn giáo ra.
Nhiệm vụ tối cao của chúng ta.
Bộ bốn chót bàn về Pháp (Dhamma),
tức là Thiên nhiên và Chơn Lư về Thiên nhiên. Khi tâm (citta)
đă chịu ở dưới sự kiểm soát
rồi và có được định lực
(samadhi) cần thiết, ta dùng tâm ấy
để thực hiện cái nhiệm vụ tối cao.
Khi nói "tối cao", chúng tôi muốn nói đến nhiệm vụ phải biết rơ,
phải nhận thức rơ, Chơn Lư. Xuyên qua sự minh sát (Vipassanà)
bằng cách quán sát thật kỹ lưỡng với một
định tâm chúng ta sẽ
nom thấy rơ Chơn Lư của muôn sự vật. Chúng ta nhận thức
được mọi sự vật đều vô thường. Bất cứ
việc ǵ mà ta đang thể nghiệm
đây cũng là vô thường. Ngay cả những sự vật mà ta c̣n chưa
ư thức đến cũng vô thường nữa, nghĩa
là, luôn biến chuyển và thay
đổi. Chỉ có một ngoại lệ duy nhứt là Niết-bàn (Nibbàna),
một thực thể chẳng hề thay đổi. Như
thế, chúng ta biết được sự vô thường (aniccam)
của muôn sự vật. Hơn thế nữa, sự kiện về vô thường c̣n
đè ép chúng ta, và khiến cho
chúng ta phải thể nghiệm sự Khổ sở (Dukkha). T́nh trạng khổ
sở đó khó cho mọi người phải chịu
đựng măi; chẳng có tự ngă nào, linh hồn nào chống cự lại
được. Đó là vô ngă (anattà).
Và như thế đó chúng ta nhận thức được
vô thường, khổ sở, vô ngă (aniccam dukkham anattà).
Gọi chung chúng lại, ta nói đó là
tánh không (sunnatà), tức là sự rỗng không của cái
tự ngă. Kế đó, nhận thức đến sự
như thị (tathatà), "như thế", "chỉ là như vậy
đó’. Đó là bước thứ nhứt
của bộ bốn thứ tư. Nó được
gọi làquán tưởng về vô thường (anicca nupassanà)
Chỉ riêng một danh từ kép đó cũng đủ
bao trùm hết cả các sự nhận thức về vô thường, khổ sở,
vô ngă, tánh không, như thị! (aniccam dukkham anattà
sunnatà tathatà). Tất cả các điều
đó đều được gom chung lại vào một bước, bởi v́ tất
cả đều là kết quả trực tiếp
của việc nhận thấy ra được sự
vô thường.
Tiếp tục thực tập, ta thấy rằng: "Ồ! một khi
nhận thức được vô thường
(aniccam) rồi th́ sự bám níu (= chấp thủ) bắt
đầu phai nhạt dần, rồi từ từ tan rả
từng miếng, từng miếng ra". Điều đó được gọi là Viràga,
sự vô chấp thủ, sự buông bỏ chẳng bám níu nữa. Nhận thức
được sự tan rả của việc bám níu khiến
ta thốt lên: Ồ! tiêu tán hết rồi! Sự bám chặt
đă "ră bèn" hết rồi!
Đó là sự
đoạn diệt (nirodhà):
sự tuyệt diệt đến tận gốc rễ của mọi
lậu hoặc, phiền năo và khổ sở. Nếu sự khổ sở (dukkha)
đă thật sự chấm dứt, chúng ta
liền biết rơ: "Ư a! Nay mọi việc đều
chấm dứt hết, mọi việc đều ngừng lại hết. Nhiệm vụ của chúng ta đă
hoàn tất! Chẳng c̣n ǵ phải làm thêm nữa". Chẳng c̣n sự khổ
sở nào hay vấn đề khó khăn nào
sót lại nữa, c̣n cần phải dập tắt nữa cả.
Đấy được gọi là sự quẳng bỏ
lại ra phía sau (patinissagga), sự khước từ, sự từ bỏ
tất cả. Chẳng c̣n ǵ sót lại hết cả.
Đấy là bộ bốn cuối cùng, sự quán tưởng về Pháp (Dhamma
nupassanà) có liên quan đến Chơn
Lư của muôn sự vật.
Chẳng có ǵ dư thừa cả.
Sau cùng, bạn có thể tự ḿnh nhận thấy lấy, xem
có việc ǵ là dư thừa hay không. Chúng ta bắt
đầu nghiên cứu về sự Khổ sở (dukkha),
và nguyên nhân đă khiến sự Khổ
sở khởi lên. Kế đó, chúng ta nghiên
cứu về những cơ sở nào đă
khiến cho sự Khổ sở nẩy nở thêm lên:
đó là thân (Kàya) và các cảm thọ (Vedanà).
Chúng ta tiếp tục nghiên cứu sự thể nghiệm khổ sở, hoặc thể nghiệm
sự vắng bóng của nỗi Khổ sở; nói cách khác, chúng ta
đă nghiên cứu tâm (citta),
cái tâm thể nghiệm sự Khổ sở và sự Chẳng khổ. Và sau chót, chúng
ta nghiên cứu Pháp (Dhamma), tức là Chơn Lư của muôn sự vật,
để khiến cho tâm biết,
hiểu biết, biết thật rơ ràng, cho đến
khi nào tâm ấy biết rằng chẳng c̣n ǵ bám níu (=
chấp thủ) vào đâu nữa cả. Biết buông
bỏ tất cả!
Thật có rất nhiều việc cần phải làm.
Để hoàn tất nhiệm vụ
đó, sự thực tập của chúng ta cần phải
thật đầy đủ. V́ lẽ đó mà
ta cần phải có đủ mười sáu
bước thực tập. Nhưng như tôi đă
giải thích với các bạn khi tŕnh bày Pháp nầy, cũng chẳng có chút
nào là quá mức hay dự thừa cả. Thật ra, có rất nhiều
đề mục cần phải nghiên cứu
để thấu hiểu tường tận, nhưng chỉ nên
biết rằng đó chỉ có vơn vẹn là
mười sáu bước thực tập mà thôi, có chi là quá nhiều
đâu. Vài người nói, như thế
đó cũng đă nhiều rồi, và họ
c̣n chưa muốn nghiên cứu và thực tập
đến. Nếu họ cứ nghĩ Pháp nầy chẳng giúp đỡ ǵ cho họ, th́
thôi vậy, cứ để cho họ tự t́m
lấy những ǵ thích hợp với họ. Những ai chẳng muốn nghiên cứu và
thực tập h́nh thức đầy đủ của
mưới sáu bước thực tập nầy, th́ họ vẫn c̣n có thể tập theo
các thể dạng tóm lược đă
được bàn
đến ở phía trước. Đấy cũng khá đủ để
có thể thâu hoạch được các lợi lạc của Phật học xuyên qua
kỹ thuật quán tưởng về Định lực
(samàdhi bhàvanà).
-ooOoo-
Phụ lục 4
Phần
Đúc kết
của Tỳ kheo Santikaro
(Trích đoạn Phần
Đúc Kết của Tỳ kheo Santikaro,
người đă thông dịch từ tiếng Thái sang Anh ngữ.)
Hôm nay, tôi xin cố gắng ôn lại và thêm vào vài
điểm của Pháp sư Phật Lệ (Ajahn
Buddhadàsa) mà tôi nghĩ có lẽ các
đạo hữu người Tây phương có thể gặp khó khăn hay dễ lầm lẫn. Đây
chỉ là đôi điều gợi ư hay là
vài mẹo vặt có thể dùng để thiết lập
sự thực tập Giác Niệm về Hơi thở (Ànapànasati). Phần
c̣n lại có liên quan đến Chánh Kiến (Sammà
ditthi). Thái độ của chúng ta có
đứng đắn, th́ việc thực tập Giác Niệm mới trở nên
đứng đắn để đưa đến sự dập tắt các
Khổ sở (dukkha) qua sự chấm dứt các chấp thủ (= các
sự bám níu). Mặc dầu tôi chẳng phải là một thiền sư, nhưng các chi
tiết nầy cũng có thể giúp ích được
các bạn một cách thực tiễn.
Tiến triển tự nhiên và thực tập cố ư.
Tôi xin bắt đầu
với một sự phân biệt thường bị bỏ quên. Khi chúng ta nói
Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati), chúng ta cũng nói
đến sự tiến triển tự nhiên của
tâm trí, của đời sống con người. Sự
tiến triển tự nhiên đó chẳng
phải là cùng một việc với sự thực tập quán tưởng, mặc dầu
cả hai cùng khởi lên với nhau và hỗ trợ cho nhau. Mười sáu bước
của Giác Niệm về Hơi thở được đặt
trên căn bản quán sát mười sáu
đề mục (bao gồm cả hơi thở, nhưng chẳng giới hạn vào hơi
thở) trong khi chúng ta có ư thức về hơi thở vào và hơi thở ra.
Trong việc chúng ta nghiên cứu về đời
sống, chúng ta đặt tiêu điểm lên
mười sáu đề mục linh động đó. Cùng
một lúc, mười sáu đề mục đó khởi lên,
một cách tự nhiên, từ sự huấn luyện về tâm (citta bhàvanà).
Tâm trí phải noi theo một con đường
tiến triển nào đó, từ điểm tâm
trí đang hiện diện để đi đến điểm được gọi là "giác ngộ".
Với tất cả chúng sanh, con đường tiến
triển đó giống nhau, một sự tiến triển tự nhiên vừa là bổn
phận vừa là đặc quyền của tất cả
chúng ta. Giác Niệm về Hơi thở chẳng phải là sự tiến triển
đó, đúng ra Giác Niệm về Hơi thở là
sự khảo sát và sự trưởng dưỡng của sự tiến triển tự nhiên
đó. Khi sự tiến triển đó khởi lên,
và nó đă bắt
đầu rồi, chúng ta dùng Giác
Niệm về Hơi thở để học tập và
t́m hiểu về nó. Xuyên qua sự thông hiểu
đó (về sự tiến triển tự nhiên)
chúng ta có thể dùng Giác Niêm về Hơi thở
để hỗ trợ, trưởng dưỡng, và
thúc đẩy sự tiến triển đó tiến lên
theo. Như thế, sự thực tập và các tiến bộ thu hoạch
đều liên hệ hỗ tương nhau, và
chẳng thể tách rời nhau ra, mặc dầu chúng chẳng phải là
đồng nhứt với nhau.
Người ta thường lầm lẫn hai
điều vừa nói đó. Ta thường nghe thốt
lên: "Ồ! Tôi đang ngất ngây,
tôi đang có hỉ (ṕti), tôi
đang được bằng ḷng, th́ tôi
phải đang ở bước thứ năm."
Sự lầm lẫn đó có thể xảy ra ở mọi
bước thực tập khác và vài người lại nghĩ rằng họ
đă có thể thi hành hết cả
trong một buổi ngồi tập ngắn ngủi. Cái cảm giác bằng ḷng
đó, cũng như các đối tượng khác, sẽ
khởi lên, đến rồi đi, vào
mọi thời, như là một yếu tố của tiến tŕnh tự nhiên
đang tiếp diễn. Tuy nhiên,
trong bước thứ năm,
chúng ta mới bắt đầu làm việc
với hỉ (ṕti) thật là vào
đúng lúc, v́ sau khi thực tập
xong đầy đủ cả bốn bước
(của bộ bốn thứ nhứt) th́ hỉ mới khởi hiện lên rơ
ràng và vững vàng. Ngay cả khi thực tập bước thứ nhứt, cảm
giác bằng ḷng cũng đă khởi
lên cùng với niềm vui (lạc, sukha). Thế th́
đâu có ǵ mà phải thích rộn
lên như thế. Chúng ta cũng lại có thể có ư thức về sự vô thường,
ngay cả trong bước thứ nhứt, nhưng
đó c̣n chưa phải là
đă
đến với bước thứ mười ba,
trừ phi lúc ấy ta đang cố ư quán
tưởng về sự vô thường. (Trong trường hợp vô
thường, nếu đó là một
chiếu kiến (insight) nom thấy thật rơ ràng với Trí
huệ, chớ chẳng phải chỉ là sự tự nhũ thầm tưởng tượng ra như thế,
th́ cũng đáng cho ta tiến lên
ngay. Tuy nhiên, với mười hai bước
đầu tiên, tốt nhứt là nên tập
từng bước một, từ bước, mỗi bước một lần). Vào mỗi một lúc
nào đó, chúng ta có ư định chỉ thực
tập một bước đặc biệt nào đó,
hoặc một đề mục đặc biệt nào
đó mà thôi. C̣n các đề mục
khác được tạm thời gát cả qua một bên. Nếu tâm trí có
đi "ngao du", th́ chỉ nên ghi
nhận việc đó, dứt bỏ nó đi, và
trở lại với đề mục hiện đang cứu xét
cùng với nhịp hơi thở vào và ra.
Có một sự khác biệt giữa những ǵ khởi lên tự
nhiên và những ǵ chúng ta đang thực
tập một cách riêng biệt. Để
tóm lại, về phương diện tự nhiên th́ có
đủ mười sáu bước, mười
sáu đề mục được khởi lên một
cách tự nhiên khi nào đầy đủ các điều
kiện hiện có. Về phương dện thực tiễn, chúng ta thực tập một cách
có hệ thống về mười sáu sự việc, từng đề mục một, mỗi cái một lần.
Xin các bạn hăy hiểu rơ điều
nầy. Nó sẽ giúp các bạn biết chắc được điều ǵ bạn
đang cần phải làm và thực tập
cho có hiệu quả.
C̣n một phương diện khác của sự tiến triển tự
nhiên nữa, đó là tâm trí tiến
triển từ t́nh trạng thô thiển sang một t́nh trạng tế nhị hơn về
vui mừng. Khi chúng ta mới bắt đầu
quán tưởng, chúng ta hay lưu tâm đến một t́nh trạng vui
mừng c̣n thô thiển, thông thường là về nhục cảm và t́nh dục. Qua
sự quán tưởng, chúng ta gặp được các
giai tầng tinh tế hơn về vui mừng. Và với sự quán tưởng về
tâm (citta bhàvànà) càng tiến triển, chúng ta khám phá ra
c̣n nhiều giai tầng tế nhị hơn nữa về sự an lạc. Một khi chúng ta
đă học
được giai tầng càng ngày càng
cao hơn về an lạc, th́ cũng khá dễ dàng
để buông bỏ các t́nh trạng vui
mừng c̣n thô thiển đi. Như thế, trong
việc thực tập nầy, có sự tiến triển tự nhiên của tâm trí
biết buông bỏ các t́nh trạng thô thiển về vui mừng khi
đă khám phá ra niềm vui tốt
đẹp hơn. Rồi đó tâm sẽ bám vào
niềm vui đẹp đó cho đến khi nào
nó thấy ra được một niềm vui khác c̣n
cao quí hơn nữa. Nó có thể buông bỏ những ǵ nay xem như là một
niềm vui c̣n thấp kém để hưởng thọ
lấy một niềm vui cao quí hơn. Điều nầy cứ thỉnh thoảng xảy ra cho
đến khi chúng ta hiểu được rằng niềm vui tối thượng chính là
chẳng bám vào, hay đắm say với, bất
cứ h́nh thức vui mừng nào cả.
Xin mỗi lần chỉ một bước thôi, và xin khởi sự
ngay tại chỗ phải bắt
đầu.
Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati) cần
phải được thực tập mỗi lần chỉ một
bước thôi. Chúng ta chỉ thêm rối trí hay lơ
đăng hơn, khi cố làm hai hay
ba việc cùng một lúc. Chúng ta phải nên thoả măn với bước
chúng ta đang thực tập và
quyết tâm thực tập nó cho thật đúng,
dầu nó kéo dài trong bao lâu
đi nữa. Chúng ta chẳng nên nhảy ḷng ṿng từ bước
nầy sang bước nọ, chỉ v́ chúng ta thiếu sự yên tâm, hoặc
chán nản, hoặc đang có đầy ham muốn.
Đừng để ư nghe theo khi ḿnh
đang nghĩ: "Hôm nay, ta sẽ tập cả mười sáu bước.",
hoặc là "Ḿnh hăy tập bộ bốn thứ nhứt tuần nầy, tuần sau
đến bộ bốn thứ hai, rồi
tuần sau nữa...", hoặc là "Ḿnh hăy thử bắt
đầu tại bước thứ mười sáu,
rồi tập ngược lên." Cũng đừng giở
sách ra đọc lướt qua rồi chọn một bước nào ḿnh
thích nhứt để thực tập. Chúng ta phải
tập từng bước một, bởi v́ Pháp Giác Niệm Hơi thở
đă căn
cứ vào sự tiến triển tự nhiên vừa
được mô tả ở trước.
Muốn thu hoạch
được lợi lạc nhiều nhứt về sự tiến triển tự nhiên
đó, tốt nhứt là chúng ta phải
thực tập theo đúng theo Pháp Giác
Niệm về Hơi thở đă được Đức
Phật chỉ dạy.
Luôn luôn phải bắt
đầu tại chỗ bắt đầu. Mỗi buổi thực tập bắt đầu với sự thiết lập
giác niệm (sati) lên trên hơi thở và rồi liền
thực tập ngay bước thứ nhứt. Sau khi bạn
đă thuần thục với bước một
rồi, sau khi bạn đă biết
bước ấy rất đầy đủ rồi và
thực hành bước ấy dễ dàng rồi, th́ bạn mới sang bước thứ
hai. Hăy thực tập bước thứ hai cho
đến khi nào bạn trở nên thiện
xảo với bước đó, và
đă học xong tất cả những ǵ
bạn phải biết về bước đó. Rồi
bạn mới qua bước thứ ba.
Đừng để ḿnh phải rơi vào sự
lầm lộn chút ít ở bước một, rồi lại chút ít ở bước hai,
rồi lại vài chỗ ở đây, vài
chỗ ở đó. Ta thường hay nóng ḷng
với điểm ta đang đứng, và muốn
sang ngay đến chỗ nào khác.
Biết tự kềm chế chẳng nghe theo sự nóng ḷng
đó, sẽ đem lại cho ta nhiều điều tốt.
Vậy, bạn hăy thực tập từng bước một, mỗi bước một
lần, và nên đeo dính bước ấy cho đến
khi nào bạn trở nên thật thiện xảo với bước
đó mới thôi.
Mỗi buổi thực tập là một buổi hoàn toàn mới.
Mỗi buổi ngồi hoặc đi, hoặc buổi thực
tập về ǵ khác nữa, cũng là một buổi hoàn toàn mới. (Và
thật ra, mỗi hơi thở cũng đều là
mới cả). Bởi thế cho nên, mỗi buổi thực tập phải bắt
đầu ngay tại bước thứ nhứt.
Ngay cả khi bạn vừa thực tập ở bước thứ ba, hoặc
bước thứ tư, vào ngày hôm qua, hay trước bữa
ăn sáng, (...) bạn cũng phải bắt đầu
buổi hôm nay ở bước thứ nhứt (...) Nếu bạn
đă thành công rồi với bước
một, giờ đây bạn cũng phải ôn nó
lại, ngay tại lúc khởi sự tập lại ở mỗi buổi, ôn lại cho đến khi nào
mà sự hiểu biết về bước một hiện ra tại
đây và ngay bây giờ, chớ chẳng
phải chỉ là một sự hồi tưởng suông nhớ lại nó. Mỗi bước phải
được ôn lại như thế đó, để lấy làm
chắc là ḿnh đă thiện xảo với
nó ngay bây giờ. Tùy vào các điều
kiện hiện có -- phần lớn là
điều kiện nội tại -- mỗi buổi thực tập chẳng đi xa hơn mỗi một
bước, và ở vài buổi khác cũng chỉ
đến mức đă tiến bộ chung vừa
qua.(...) Chẳng có chút mong cầu nào cả, ta cứ thực tập từng bước
một, nhận thấy rơ những ǵ đang xảy
ra và cố học hỏi cho được
những ǵ ta có thể học được.
Mọi sự việc chỉ giản dị là như thế thôi. MỗI
bước tùy thuộc vào các bước trước.
Điều kiện thành công của
bước thứ năm là sự hoàn
tất từ bước thứ nhứt cho đến
bước thứ tư. Ta chỉ sẵn sàng bước sang bước thứ
mười khi nào ta đă xuyên
suốt được từ bước thứ nhứt
đến bưóc thứ chín,
một cách thành công. Một khi ta đă
chịu chấp nhận sự vật như chúng đang
là như thế, th́ ta mớí ngưng lại việc mong cầu chúng phải
như thế nầy hoặc phải như thế kia. Nhờ biết chấp nhận mỗi bước
theo tánh tự nhiên của nó mà ta mới thực tập
được đứng đắn, thông minh, chẳng nôn
nóng, chẳng chán ngấy, và chẳng bực bội.
Con
đường trung đạo về sự
vô chấp thủ (= chẳng bám níu)
Ta cần phải luôn luôn ghi nhớ rằng
đây là sự thực tập và
đào luyện tâm trí
để dứt bỏ sự chấp thủ, tức là
sự bám níu chặt chẽ. Đức Phật chỉ chỉ
dạy con đường Trung Đạo, và Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati)
cũng chỉ là con đường Trung Đạo đó.
Nó đâu phải là sự thực tập ráo riết, nhưng cũng chẳng phải
là chẳng cần một nỗ lực nào. Nó cần
được thi hành một cách quân b́nh. Nó phải là sự thực tập về
vô chấp thủ (= về sự chẳng c̣n bám níu nữa),
đâu phải là sự vứt bỏ hết trơn
trọi, mà cũng đâu phải là sự
đeo chặt một cách ích kỷ. Bạn phải
thận trọng khi ngồi xuống tập với ư nghĩ như vầy: "Tôi đang ngồi
đây, tôi đang canh chừng đây, tôi đang thở đây, tôi đang quán
tưởng đây, tôi là như thế nầy, cái
đó chính là của tôi, hơi thở
của tôi, thân tôi, tâm tôi, cảm thọ của tôi, Tôi, của tôi, tôi,
...". Xin hăy học kỹ cách gạt bỏ các cảm giác bám níu
đó và các ư tưởng về Tôi, về
của tôi, ra khỏi ngay đi. Hăy
học kỹ cách giữ yên cho thật quân b́nh với luồng hơi thở có ư thức
(sati, giác niệm).
Ta chẳng đeo chặt
vào kỹ thuật ta đang xử dụng,
hoặc vào lư thuyết của nó. Ta chẳng dùng nó
để thu thập các việc hiểu biết thế
tục nhỏ nhặt về hơi thở, về chúng ta, hoặc về bất cứ sự việc ǵ.
Ta chẳng lạm dụng nó để mong được
chứng đắc. Đúng hơn, ta kính cẩn dùng nó
để phát triển các sự khéo léo chúng
ta cần có, để học hỏi về các sự vật mà ta cần phải biết rơ.
Và điều cần thiết duy nhứt chính là
để buông bỏ sự bám níu và dập
tắt sự khổ sở (dukkha).
Con đường Trung
Đạo c̣n là một sự thực tập về sự chơn chánh,
đứng đắn, để được trở nên toàn
thiện trong lối sống của chúng ta. Trong khi thực tập Giác Niệm về
Hơi thở, ta đang sống một lối sống
chơn chánh. Ta chẳng gây tổn hại cho bất cứ sanh vật nào,
cũng chẳng làm hại ḿnh, hại người. Sự thực tập nầy chẳng hề lạm
dụng đến ai cả. Khi ta đă an
lập trong phép thực tập nầy, ta trở nên quen thuộc với một lối
sống đứng đắn, quân b́nh, và
chẳng bám níu. Ta chẳng kẹt dính vào cực
đoan nầy hay cực đoan kia, hoặc lọt vào
bất cứ cạm bẫy nào của nhị nguyên (dualism). Mặc dầu Trí
huệ có thể chỉ được phát triển trong
sự thực tập về quán tưởng (bhàvanà) một cách
chánh thức, nhưng ta cũng có thể đi
tới Trí huệ đó, và trau dồi nó qua sự quán tưởng c̣n chưa
chánh thức, về đời sống hàng
ngày.
Đối với đa số chúng ta, sự bám níu (= chấp thủ)
l à một thói quen rất lâu đời.
Nếu chúng ta biết buông rơi nó được ngay ... như thế nầy!, th́
rồi chúng ta sẽ thành Phật ngay ... như thế nầy! Nhưng phần
đông chúng ta lại phải cố công làm
sao để buông bỏ hết mọi bám níu của
chúng ta và cái thói quen hay bám níu
đó nữa. Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati)
chính là đường lối để biết buông bỏ.
Ta bắt đầu bằng việc buông bỏ các bám níu thô thiển: bám níu vào
thân thể, vào sự đau đớn, khổ sở, bám
níu vào sự xao động và
nôn nóng, vào sự chán ngấy và lười biếng, bám níu vào những sự
khuấy rối bên ngoài và cả những sự phiền hà nhỏ nhặt nữa. Rồi ta
lại thấy ta đang bám níu vào
những sự việc tế nhị hơn, như các lạc thọ chẳng hạn. Một khi ta
đă buông rơi
được chúng, ta lại bám níu vào
cái ǵ cao quí hơn, trong suốt hơn, chiếu sáng hơn, tức là vào
t́nh trạng tỉnh thức. Ta hăy buông bỏ chúng hết
đi, ta sẽ bắt đầu thấy được ánh sáng
của thực tế và rồi lại cũng bám níu vào các chiếu kiến (insights)
đó nữa. Sau cùng, ta mới học
được sự buông bỏ tất cả. Bằng cách đó,
Giác Niệm về Hơi thở là một
đường lối có hệ thống đàng hoàng
để ta buông bỏ từ từ các h́nh
thái tế nhị của sự bám níu măi cho
đến khi nào chẳng c̣n một sự bám níu (= chấp thủ) nào nữa
cả.
Kiên nhẫn và tiến bộ.
Sau rốt, xin bạn cho tôi
được nhắc đến điều nầy: sự kiên
nhẫn (khanti, nhẫn nhục) là một khí cụ tinh thần hết
sức cần thiết. Đức Phật có nói trong
Kinh Pháp Cú:
Khanti paramam tapo titikkhà
(Nhẫn nhục là khổ hạnh cao quí nhứt -- Kệ số 184).
Sự nhẫn nhục là sự
đốt cháy tuyệt kỷ của mọi phiền năo.
Đa số chúng ta thường có thói quen tự
phán xét và tự đo lường ḿnh
theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau. Vài người có tánh cạnh tranh, và
so sánh ḿnh với kẻ khác. Vài người lại tự thẩm lượng ḿnh chiếu
theo các lư tưởng khác nhau của ḿnh. Lắm người khi học hỏi về
mười sáu bước thực tập của Giác Niệm về Hơi thở tự
đánh giá ḿnh dựa theo các
bước đó. Ta lại điền rồ nghĩ rằng:
"Tôi nay là một người đă
khá tốt khi học xong bước thứ tư, hơn là khi chỉ mới thực
tập có bước một." Ta luôn muốn ḿnh tốt hơn và thực tập
bước thứ tư, rồi thứ năm,
rồi thứ sáu. Cách suy nghĩ như thế
đó chẳng làm cho ai khá hơn
chút nào đâu.
Đừng đo lường sự tiến bộ bằng cách dựa theo
mười sáu bước đó. Hăy
đo lường sự tiến bộ theo sự phát
triển các đức tánh tinh thần, như giác niệm (sati),
năng lực, kiến thức, tự tín, an tĩnh,
thân thiện, từ bi, quân b́nh, và v.v. ... Hăy
đo lường với sự giảm bớt bám níu và
sự biến mất của tham lam, sân hận và si mê. Các thành quả
đó của sự thực tập đứng đắn sẽ hiện
ra rơ rệt, ngay cả khi thực tập bước một. Ngay cả
khi chúng ta kiên tŕ với bước một nhỏ nhặt và cũ kỹ nầy,
cho đến trọn khoảng đời c̣n
lại của chúng ta, nếu chúng ta thực tập bước ấy cho thật
đúng đắn, những đặc tánh kia sẽ tăng
trưởng dần lên và sự bám níu (= cố chấp) sẽ giảm thiểu. Rồi
cũng sẽ có sự giảm thiểu từ từ của Khổ sở (dukkha) và
đó mới chính là
điều ta đáng lưu tâm.
Đi tới được bước thứ mười sáu
chẳng phải là hết sức quan trọng đâu.
Thật ra, bước thứ nhứt cũng
đă tạm
đủ rồi. Thực tế về Niết-bàn
(Nibbàna) là chẳng bị điều
kiện hoá và chẳng kẹt vướng vào thời gian. Cho nên bạn
chẳng thể biết được lúc nào nó
sẽ thực hiện. Cũng có thể là ngay trong bước thứ nhứt. Bạn
chớ nôn nóng muốn gấp vào bước thứ hai, hoặc bước thứ ba,
hay bước thứ mười. Bước thứ nhứt có thể là
đủ rồi, nếu bạn thực tập nó được thật
chín chắn. Hăy thực tập với sự kiên nhẫn, với sự quân b́nh,
với sự rơ ràng, với Trí huệ. Hăy thực tập mà chẳng
đeo níu và bám chặt. Chỉ cần
là cứ việc thực tập, vậy thôi!
Ta nhận ra khi ta có
được sự kiên nhẫn và có sức
chịu đựng được trong việc thực tập
Giác Niệm về Hơi thở (Ànapànasati), th́ sự kiên nhẫn
và sức chịu đựng là một yếu tố
của đời ta và hơn thế nữa. Cả
hai đức tánh đó giúp ta có được một
cuộc đời trong sạch, sáng tỏ và yên tịnh. Vậy xin bạn hăy
kiên nhẫn, thật là kiên nhẫn. Hăy cố học ngồi chẳng
động đậy. Hăy học cắm sâu vào
bước thứ nhứt măi cho đến khi
nào thực tập bước đó
thật đầy đủ. Rồi đến bước thứ hai. Tập mỗi bước
cho chín chắn và đừng nôn nóng.
Với sự kiên nhẫn, tâm sẽ phát triển và nó
đi tới một điểm nào
đó. Hễ c̣n thiếu bền chí mà
lại ham muốn đi tới nữa, th́
bạn đă ít
được những ǵ quan trọng mà
c̣n phải thể nghiệm thêm nhiều khổ sở (dukkha) nữa là khác.
Có vài tư tưởng về thái
độ, c̣n gọi là có Chánh Kiến,
mà tôi có thể cung hiến cho các bạn: khám phá sự tiến triển tự
nhiên, nghiên cứu nó một cách có hệ thống, bao giờ cũng bắt
đầu với một cách mới mẻ, bước mỗi lần
một bước, kiên nhẫn, gạt qua một bên các mong cầu,
ham muốn, và đ̣i hỏi,
giữ vững sự quân b́nh, học cách nhận diện ra, và buông bỏ ngay
liền sự bám níu (= chấp thủ) đang lén
lén ḅ vào trong sự thực tập. Hăy chấp nhận rằng
Niết-bàn (Nibbàna) là lư do của sự thực tập Giác Niệm
về Hơi thở (Ànàpànasati) và nên hân hoan
đă có
được một cơ hội rất vĩ đại như thế
nầy.
Mở
đầu: an lập giác niệm
(sati)
Bất cứ việc thực tập nào về quán tưởng tâm (citta
bhàvàna) cũng phải mở đầu bằng
giác niệm (sati) nắm lấy hơi thở và an lập
lên trên hơi thở; đó là
đối tượng thứ nhứt của chúng ta. Có
nhiều cách để có sự tỉnh giác về hơi thở. Ta có thể sắp xếp để vừa
giác niệm vừa hơi thở,
để chúng cùng lần lần trở nên từ thô thiển
đến tế nhị, đúng theo một đường lối
có liên quan đến bốn
bước đầu. Tôi xin mô tả
một đường lối khá giản dị có thể thành
công được với nhiều người, nhưng bạn
chẳng cần phải nhắm mắt tuân theo; v́ lúc nào bạn cũng nên
tự t́m lấy những ǵ thích hợp riêng cho ḿnh.
(1) Một khi đă
ngồi yên xuống một cách thoải mái, thư giăn và chẳng
động đây, hăy cảm thấy hơi thở
đă bắt
đầu dễ nhận ra trong tấm thân yên
tịnh và bất động nầy. Chú ư đến hơi
thở một cách vững chắc mà dịu dàng. Giữ sự canh chừng lên
hơi thở măi và làm quen thân thiết với cả hai việc: canh chừng và
hơi thở.
(2) Ghi nhận ba giai
đoạn của mỗi hơi thở: lúc đầu, khúc
giữa và đoạn cuối. Đối với hơi
thở vào, ba giai đoạn đó liên
hệ đến mũi, giữa ngực và dưới
bụng. Đối với hơi thở ra, th́
ngược lại, từ dưới bụng rồi trở lên mũi
để chấm dứt. Canh chừng và
đợi tại mũi cho đến khi cảm được hơi
thở vào đang đi qua đó. Rồi
nhẹ nhàng nhảy sang chú ư đến
giữa ngực và chờ ở đó cho đến
khi nhận thấy được hơi thở tại đấy. Rồi lại nhẹ nhàng nhảy
sang bụng và canh chừng xem lúc nào hơi thở
được cảm thấy ở đó. Tiếp tục canh
chừng theo hơi thở vào cho đến
lúc nó chấm dứt và chờ cho hơi thở ra khởi lên. Một khi hơi
thở ra đă
được cảm nhận thấy, th́ liền
chú ư trở ngược lên ngực, rồi đến mũi.
Quan sát tại mũi xem hơi thở ra chấm dứt iại đấy và chờ một
hơi thở mới vào, và rồi chú ư theo
đến ngực, và cứ tiếp tục như thế. Với giác niệm (sati),
ghi nhận hơi thở tại mỗi điểm mà
nó đi ngang vào và ra khỏi,
vào và ra. Hăy cẩn thận quan sát một cách kiên nhẫn ở mỗi
điểm cho đến khi hơi thở (cử động của
hơi thở hoặc của các bộ phận cơ thể có nhiệm vụ trong việc hô hấp)
đă được cảm nhận thấy ra rơ
ràng. Chỉ vào lúc đó, tâm trí mới nhẹ
nhàng nhảy sang qua điểm kế
tiếp. Việc nhảy nhẹ nhàng từ
điểm nầy sang điểm kia cũng là một cách dễ dàng
để an lập giác niệm (sati)
trên hơi thở. Đó là một cách
khá tốt để bắt đầu khởi sự tập. Tuy
nhiên lối đó cũng hơi thô
thiển và xao động, sau một lúc
thực tập. Nhưng một khi ta đă trở nên thiện xảo về việc
theo dơi rồi, chúng ta sẽ cảm thấy cần có một lối nào tế nhị hơn,
an tĩnh hơn để có được giác
niệm về hơi thở.
(3) Kế đến, ta
nối liền ba điểm lại thành một luồng hay là một ḍng trôi
chảy, như gần giống với chính luồng hơi thở vậy. Ta gọi
đó là "theo dơi, rượt theo, săn
đuổi theo, lén ŕnh theo". Trong khi thở một cách tự nhiên,
chẳng có một sự cố gắng, thúc dục nào hay cố vận dụng nào
đến hơi thở, th́ giác niệm
(sati) theo dơi hơi thở vào và ra, giữa chót mũi và rún.
Bạn hăy theo dơi hơi thở mà chẳng nên hướng dẫn nó. Truy lùng theo
các cảm giác nối tiếp liên tục xảy ra trong thân thể -- cần phải
cảm nhận và thể nghiệm các cảm giác
đó -- khi hơi thở đi vào và ra khỏi.
(4) Một khi sự theo dơi
đă trở nên dễ dàng và liên tục
chẳng ngừng nghỉ, th́ ta sẽ thấy sự theo dơi ấy chẳng c̣n cần
thiết, lại bận rộn và hay làm gián
đoạn nữa. Lúc bấy giờ, ta đă sẵn sàng
để "canh gát"("guarding"),
tức là, có được một cách êm ả
hơn để thực tập giắc niệm
(sati) về hơi thở. Lúc nầy, tại bên trong mũi, có
một điểm liền nổi bật lên.
Điểm đó chính là nơi mà hơi
thở chạm vào, mỗi khi ta cảm thấy nó
đi ngang qua, lúc vào và lúc ra. Mặc dầu có vài người bảo
rằng có đến hai điểm như thế, mỗi bên
lỗ mũi có một điểm, nhưng bạn chớ nên
làm cho sự việc trở nên rắc rối thêm, cứ giản dị mà ghi nhận cái
điểm đó nó bao trùm cả hai bên
lỗ mũi. Đây là
điểm để "canh gát"(đó cũng như cái
trạm gát vậy). Ta lựa điểm ở mũi v́
điểm ở đó chính xác, tế nhị và
rơ rệt. Tại nơi khác, như ở ngực hay ở bụng, các cử
động choán rộng chỗ và thô phù,
chẳng phù hợp với mục đích của ta. Để
có thể làm êm dịu được hơi thở,
ta nên chọn một điểm nhỏ, dễ
chú tâm đến và thật tế nhị. Với giác niệm (sati),
ta an trú tâm (citta) vào trên
điểm đó. Hăy
để cho tâm tự gom lại
quanh điểm đó. Làm
được như thế, bằng cách đồng thời
khiến cho hơi thở êm dịu lại và khiến ḿnh trở nên nhạy cảm
hơn đối với các cảm giác, ngay tại
điểm canh gát. Tiếp tục làm êm dịu thân hành (body
conditioner, tức là hơi thở, ở
đây) cho đến khi nào định
lực (samàdhi) thực sự khởi lên và phát triển
đầy đủ.
Chúng ta có thể luôn iuôn bắt
đầu với kỹ thuật thứ nhứt. Kỹ thuật
thứ hai và thứ ba thích ứng hơn với bước một và
bước hai. Với bước ba, tốt nhứt là nên "theo dơi", mặc
dầu "canh gát" cũng có thể dùng được.
Bước thứ tư phải nên bắt
đầu bằng "theo dơi" và rồi sẽ
được sự "canh gát" thay thế cho.
Nếu buổi ban đầu
hơi thở của ta ngắn và cạn, với cử
động ở ngực thôi chớ chưa thấy ở bụng,
th́ cứ giản dị theo dơi hơi thở dài
được đến chừng nào hay chừng
nấy. Sau khi giác niệm (sati)đă
an lập, th́ chúng ta trở nên thư giăn và hơi thở cũng trở nên sâu
xa hơn. Chẳng bao lâu ta sẽ cảm thấy các cử
động ở bụng. Nếu thấy được hơi thở đi
ngang qua nhiều điểm cùng một lúc, th́ xin bạn
đừng dùng sự kiện
đó như một cơ hội khiến cho sự việc
thêm rắc rối. Xin cứ giữ cho
được giản dị: chỉ đơn thuần là một ḍng trôi chảy từ chót
mũi đến rún, và từ rún trở ra
mũi, cũng đủ cho mục tiêu của
chúng ta rồi. Đừng cố t́m kiếm
ǵ thêm để tạo ra một thể dạng hơi
thở phức tạp. Đừng cố canh chừng một lần nhiều cử động riêng
biệt. Nếu ta giản dị quan sát hơi thở, th́ hơi thở cũng thành giản
dị. Nếu ta cứ nghĩ tới nghĩ lui về các hơi thở, th́ dễ cho ta bị
rối trí, lầm lẫn lắm.
Đây l à một dịp tốt
để nhấn mạnh rằng, giác
niệm (sati) chẳng phải là "suy nghị" về sự việc ǵ.
Giác niệm là sự chú ư có ư thức, sự ư thức, sự canh chừng, sự
quan sát, sự thẩm sát. Nó chẳng cần chi
đến các ư niệm, nhăn hiệu, từ
ngữ và h́nh ảnh để tự mô tả. Các sự
vật vừa kể chỉ tổ làm cản trở cho việc trực nghiệm hơi thở
ra và vào. Ta có thể ví việc "theo dơi" hơi thở như là
đi tản bộ dọc theo bờ sông. Nước trôi
êm đềm và ta nh́n ḍng
nước chảy. Ta cần ǵ nói với ḿnh: "Sông! Sông!", "Trôi! Trôi!", "Chảy!
Chảy", v.v. và v.v. ... để ngắm ḍng
sông trôi lững lờ! Và nếu ta chẳng thận trọng th́ hăy coi chừng!,
sắp thôi nh́n nước chảy trên sông đấy,
và đi lạc vào rừng các
danh từ, các tư tưởng khác khởi lên trong tâm. Ta c̣n chưa chán
ngấy chúng hay sao mà lại vẫn cố mang vác chúng
đến để chúng xen vào Pháp Giác
Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati) của chúng ta nữa vậy?
Vài mánh lới
để giúp cho giác niệm.
Nếu cảm thấy quá khó và lâu, trong nỗ lực giữ
tâm măi trên hơi thở khi theo dơi, th́
đây có một vài mánh lới ta có
thể dùng đến. Mánh lới thứ nhứt là
cứ hướng nh́n vào chót mũi, như Pháp sư Phật Lệ (Ajahn
Buddhadàsa) đă chỉ dạy
trong các bài pháp thoại của Người. Hăy nh́n vào chót mũi theo một
cách thật là thư giăn và dịu dàng.
Đừng cố nhắm mắt lại, v́ đó
cũng chỉ khiến tạo thêm sự căng
thẳng. Làm như vậy chẳng đưa
đến giác niệm (sati) mà chỉ khiến cho thêm
... nhức đầu. Trong buổi ban đầu, có
thể bạn chỉ đủ khả năng nh́n lên phía trước chót mũi, hay
hơi xa, quá khỏi mũi, nhưng đến khi
thân thể và gương mặt bạn đă
được thư giăn, th́ bạn cũng có
nh́n thấy được chót mũi. Ngay cả khi
mắt tự động nhắm lại, con mắt trí bạn vẫn c̣n chú vào mục
tiêu chót mũi.
Mánh khoé thứ hai là cứ thở lớn tiếng. Hăy thở
đủ lớn tiếng để tai nghe được hơi thở.
Hai tai, cũng như đôi mắt, có thể trợ giúp cho giác niệm
(sati). Điều nầy lại có
ích lợi đặc biệt trong những phút đầu của mỗi buổi thực tập, và
nhứt là vào những lúc bị khấy rối, lơ
đăng. Khi nào sự theo dơi đă
trôi chảy dễ dàng rồi th́ ta buông bỏ hơi thở to tiếng
để thở lại như b́nh thường, tự
nhiên. (Hơi thở ồn cũng dễ làm ḿnh khó chịu). Dầu sao, bạn cũng
nên thử tập xem vài hơi thở ồn ồn vào lúc mở
đầu, hoặc khi nào bạn cảm thấy
khó mà an lập được giác
niệm (sati).
Mẹo khéo thứ ba là
đếm hơi thở (= sổ tức). Ta hăy chiêu tập nào mắt,
nào tai, và nào trí năng, phụ giúp vào
sự theo dơi hơi thở. Hăy đếm từng hơi
thở vào khi nó vừa khởi lên,
đếm một số cho mỗi hơi thở. Nếu tâm đi "ngao du", đếm trở lại "một".
Nếu đếm đến được tới "mười" mà tâm c̣n chưa
đi lang thang th́ cũng vẫn trở
lại với "một". Mục đích của ta ở đây
giản dị chỉ cần đếm mỗi hơi thở là
đủ. Phương pháp sổ tức
(= đếm hơi thở) của Pháp sư Phật Lệ (Ajahn
Buddhadàsa) c̣n được dùng
vào nhiều mục tiêu khác nữa. Lại một lần nữa, một khi giác niệm
(sati) đă
được an lập khá vững vàng rồi
th́ phép đếm hơi thở hết c̣n
cần thiết cho ta nữa và nên buông bỏ nó
đi. Với sự luyện tập. Giác
niệm (sati) sẽ trở nên tế nhị, linh hoạt và tự nhiên
hơn.
Hơi thở dài và hơi thở ngắn
Sau khi giác niệm (sati)
đă
được an lập (nhờ kỹ thuật thứ hai
hoặc thứ ba), ta bắt đầu lưu tâm đến hơi thở dài và hơi thở
ngắn. Tâm tuy vẫn hơi lang thang chút ít, nhưng cũng c̣n ở chung
với hơi thở vừa đủ cho ta học hỏi thêm
về đặc tánh của hơi thở ra như thế nào.
Đặc tánh đầu tiên và cũng dễ
nhận thấy là sự ghi nhận được chiều dài
hơi thở -- chiều dài ở đây, là
tính theo vừa lâu hay mau (theo thời gian của hơi thở) và vừa rộng
hay hẹp (theo phạm vi của cử động khi
thở). Đối với mục tiêu của chúng ta, một lằn ranh phân chia
chính xác giữa hơi dài và hơi ngắn cũng chẳng quan trọng mấy. Bạn
chỉ cần quen rành với hơi thở của ḿnh, biết rơ hơi thở dài và hơi
thở ngắn của bạn ra làm sao, tương
đối với nhau. Đâu cần ǵ phải so sánh hơi thở của bạn với
hơi thở của người khác.
Thông thường, bạn thấy hơi thở ở bụng dài hơn
hơi thở ở ngực, nếu hơi thở ở bụng
được để tự nhiên. Đây là
điều mà chúng ta cần quan sát,
chớ chẳng phải là điều mà
chúng ta mong t́m kiếm để có cho được.
Chúng ta chẳng nên thở theo một cách nầy hay một cách khác,
và chúng ta cũng chẳng nên dùng Pháp Giác niệm về Hơi thở
để tập luyện một lối thở nầy hay một
lối thở nọ. Vậy bạn đừng nên cố thử tập ép hơi thở bụng cho
dài ra; kết quả sẽ chẳng thư giăn, khoan khoái
đâu. Cứ để cho hơi thở tự nhiên
đến và
đi, hễ nó dài, th́ ta sẽ thấy
hơi thở dài, như vậy mới được thư giăn
và lành mạnh hơn.
Nếu hơi thở của bạn dài ra, dài thật dài, bạn
sẽ khám phá ra được một điểm lư thú.
Bạn có thể nghĩ là lạ đời, khi
bạn nghe Pháp sư Phật Lệ (Ajahn Buddhadàsa) nói rằng,
ngực nở ra và bụng co lại với một hơi thở thât dài. Theo lẽ thường
th́ ta thấy bụng nở ra với một hơi thở vào, và nó co lại với hơi
thở ra. Dường như việc quan sát đó
mâu thuẫn với nhau, phải vậy không? Cái nào
đúng? Trước tiên, chúng ta
quan sát sự thở b́nh thường. Khi ta hít vào, hoành cách mạc xệ
xuống để đẩy bụng ph́nh lên.
Khi ta thở ra, bụng lại xẹp xuống.
Đấy là lối thở bụng trước khi hơi thở trở nên dài, thật dài
hơn ra. Đó là cử
động giản dị và tự nhiên của
bụng ph́nh lên với hơi thở vào và xẹp xuống với thở ra. Vài người
xem đó th́ ngắn, vài kẻ khác
lại cảm thấy nó tương đối dài.
Giờ đây, có một
giới hạn cho bụng chỉ ph́nh lên tới một cở nào
đó. Khi ta thư giăn và thở sâu
hơn th́ giới hạn đó có thể đạt đến.
Tuy nhiên, tại thời điểm đó th́
ngực đưọc có thêm chỗ
để nở rộng ra cho hơi vào thêm.
Nếu bấy giờ ta cứ tiếp tục hít hơi thở vào, th́ ngực sẽ nới rộng
và ph́nh lên. Và cử động nầy kéo lằn
bụng lại xẹp xuống. Đó là điều
mà ư nghĩa của lời giảng của Pháp sư Phật Lệ muốn nói
đến. Một hơi thở vào thật dài
cũng khởi lên giống như một hơi thở vào b́nh thường và bụng ph́nh
lên, c̣n ngực xem như chẳng chuyển
động tí nào. Sau khi sức giăn của bụng
đă
đến giới hạn rồi, th́ ngực lại
ph́nh lên và bụng lại xẹp xuống. Khi nào hơi thở thật là dài, th́
chính bạn cũng khám phá và thấy ra
đúng như thế. C̣n đối với các
hơi thở ra thật là dài, th́ các cử
động trái ngược kể ở trên cũng
xảy ra một cách chung chung. Vậy th́ hơi thở thật dài cũng là một
hơi thở b́nh thường cộng thêm chút ít. Nhiều người trong chung ta
ít khi thể nghiệm được hơi thở thật dài,
măi cho đến khi nào thân thể
trở nên hoàn toàn thư giăn qua Pháp Giác Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati).
Và về sau nữa, hơi thở thật dài sẽ xảy
đến thường thường hơn, ngay cả ngoài
các buổi ngồi thực tập chánh thức.
Ngay cả khi giác niệm (sati) c̣n
chưa được an lập vững chắc, chúng ta
vẫn có thể học hỏi được về hơi thở dài, hơi thở ngắn. Tuy
nhiên, bước một và bước hai thực sự bắt
đầu khi giác niệm (sati)
theo dơi hơi thở đă hết ngập
ngừng. Tiếng động, tư tưởng và
các hiện tượng khác có thể đôi khi
xen vào, nhưng tâm chẳng để
tâm vướng mắc vào. Chúng ta có thể dừng lại với hơi thở,
quán sát hơi thở và học tập về hơi thở một cách hoan hỉ. Nếu chúng
ta nôn nóng để vượt qua được
bước một và muốn tiến tới những
điều "hứng thú" hơn, chúng ta cũng nên
soát cái ư tưởng đó lại xem, bằng
cách tự hỏi: "Thân thể nầy có đủ thư giăn
để ngồi thêm như thế nầy,
trong một giờ hay lâu hơn, thoải mái và chẳng muốn tiến tới
bước khác nữa chăng?" Khi hơi thở
thực sự dài (và sâu), ta có thể ngồi thoải mái trong một
thời gian lâu. Nếu ta đang xao động
cứ thay đổi thế ngồi mỗi mười hay mười lăm phút, tưởng tốt nhứt là
cứ vui ḷng ở lại với bước một. Hăy học cách ngồi yên bất
động, và thở cho dài, chậm,
dịu dàng và êm ái. Rồi th́ ta có thể ngồi dễ dàng trong một thời
gian dài. Đây là vấn
đề kỷ luật tự giác -- chớ không phải
là vấn đề hành xác! Bạn
hăy nên tập luyện một cách thông minh, và quân b́nh.
Bước thứ ba:
đối tượng mới
Trong hai bước, bước một và bước hai,
hơi thở là đối tượng duy nhứt được
chúng ta chú ư đến. Bắt đầu bước thứ ba, chúng ta sẽ
xét đến các đối tượng mới, trong
trường hợp nầy, xét về "toàn thân", ảnh hưởng của các hơi
thở đến các phần c̣n lại của
thân. Xin hăy ghi nhận rằng, đó chẳng
phải là chính hơi thở, mặc dầu hơi thở và ảnh hưởng của nó
được liên kết nhau rất chặt
chẽ. Vào lúc nầy, sự ư thức về hơi thở vào và ra
được lui về hậu trường, nơi đó các
hợi thở vẫn c̣n luôn luôn rơ rệt. Trong khi tâm
đặt tiêu chuẩn lên một
đối tượng mới, chúng vẫn ư thức rằng
chúng ta đang thở vào và thở ra.
Điều nầy vẫn đúng cho số
bước c̣n lại trong tổng số mười sáu bước.
Nghiên cứu ảnh hưởng của hơi thở
đối với toàn thân có liên quan
đến nhiều việc khác hơn là
chiều dài của mỗi hơi thở. Xét theo chiều dài của hơi thở
đă là một cách giản tiện
để bắt đầu việc nghiên cứu.
Giờ đây, chúng ta lại cần lưu tâm đến
tốc lực (mau và chậm) và phẩm chất (thô thiển và tế nhị).
Phẩm chất là quan trọng nhứt v́ chính phẩm chất của hơi thở
đă ảnh hưởng rộng lớn
đến sự êm dịu của tấm thân.
Trong bước nầy, chúng ta sẽ khám phá ra loại hơi thở nào sẽ
đem lại êm dịu nhiều nhứt cho
tấm thân nầy.
* * *
Tôi vừa tŕnh bày cùng các bạn cách làm thế nào
để khởi sự việc thực tập Giác Niệm về
Hơi thở một cách cho đúng đắn. Tôi hi vọng các bạn dùng
được các chi tiết mà tôi
đă cống hiến
để cho việc tập luyện quán tưởng được
phát triển. Trước khi chấm dứt buổi nói chuyện hôm nay, tôi muốn
xin các bạn cho phép tôi nói thêm một nhận xét chót.
Đời sống l à quán tưởng.
C̣n nhiều việc khác trong sự quán tưởng về tâm
(citta bhàvanà) hơn là chỉ ngồi suông. Những buổi tập chánh
thức, ngồi hoặc đi, cũng rất là
quan trọng, và cũng ít người thấy ḿnh chẳng cần
đến; nhưng hơn tất cả mọi việc khác,
chúng tôi lại chú trọng nhứt tới đời sống hằng ngày -- một
cuộc đời thoát khỏi mọi sự khổ sở (dukkha).
Đời sống c̣n nhiều hoạt
động khác, đâu chỉ có ngồi yên
bất động mà thôi, và Pháp Giác
Niệm về Hơi thở (Ànàpànasati) c̣n có thể giúp chúng ta
trong những điạ hạt khác nữa.
Trước nhứt, các sự khéo léo và các kiến thức
được phát triển qua sự thực tập chánh
thức, có thể được mở rộng thêm và
đem ra dùng vào các hoạt
động hằng ngày của chúng ta.
Thứ hai, chúng ta có thể vẫn có sự tỉnh giác về hơi
thở, và ngay cả đặt định tâm vào
đó trong khi thi hành các
nhiệm vụ khác của ḿnh. Nếu điều nầy
được phát triển một cách thích nghi, th́ hơi thở sẽ
điều hoà
được tấm thân ở vào một t́nh
trạng thật đứng đắn và
đưa tâm đi sâu vào sự thanh
tịnh, ổn cố, an tịch, sáng tỏ, dơng mănh và linh hoạt. Thứ ba,
tâm có thể đến với hơi thở và
chiếu trụ lên đó mỗi khi một t́nh
trạng tinh thần có hại khởi lên. Khi làm như thế, th́ chẳng nên
coi hơi thở như là một lối thoát. Tuy nhiên, cách
đó lại thường là một phương
tiện hết sức khéo léo để vượt qua
được những tư tưởng bất thiện, những t́nh cảm và khí sắc
chẳng đẹp. Đấy mới chỉ có ba cách
thôi mà tôi muốn đưa Pháp Giác
Niệm về Hơi thở vào trong trọn cuộc
đời.
Ngay cả lư thuyết của Pháp Giác Niệm về Hơi thở
(Ànàpànasati) cũng có thể được
đem ra dùng trong sự quán tưởng về
đời sống hằng ngày. Một khi
chúng ta đă có
đủ thời giờ để nghiên cứu và
thông hiểu rơ ràng mười sáu bước (tưởng cũng c̣n cần
đọc thêm nhiều tài liệu bổ túc
khác) chúng ta có cần ǵ giới hạn sự ứng dụng các bước nầy
chỉ riêng vào trong hơi thở. Như Pháp sư Phật Lệ (Ajahn
Buddhadàsa) có nói trong Phụ lục số 2, rằng Pháp Tứ Niệm Xứ (Satipatthàna)
c̣n thiếu sót một phương pháp rơ rệt
để thực tập. Mặt khác, chúng ta làm phát triển bốn lănh vực
của sự tỉnh thức vào mọi dịp thuận tiện. Rồi các bạn sẽ thấy
mười sáu bước cống hiến một cơ cấu tổng quát cho sự thực tập
về Pháp Tứ Niệm Xứ (Satipatthàna). Chúng ta phải quán tưởng
mười sáu đề mục đó mỗi khi gặp được
dịp, vào lúc nào mà chúng sanh khởi lên. Mặc dầu các diễn
biến trong cơ thể (bodily processes) c̣n chưa mở ra hết trước sự
giải tích (treatment) có hệ thống và
đầy đủ của chúng ta với phương tiện hơi thở, nhưng chúng ta vẫn có
thể dùng mười sáu bước thực tập
để nhận diện ra được những sự việc nào
đáng cho ta chú ư đến nhứt.
Từ mười sáu bước thực tập cho
đến bất cứ
việc nào
Chúng ta có thể dùng bất cứ một hoạt
động nào của cơ thể
để làm cơ sở căn
bản cho giác niệm (sati). Hoạt
động đó càng cần thiết và chủ
yếu cho đời sống, (như trường hợp của
hơi thở chẳng hạn), th́ lại càng tốt. Trước nhứt,
t́m hiểu về hoạt động đó dưới mọi
khía cạnh của nó. Thứ hai, t́m thấy ra hoạt
động đó có ảnh hưởng nào
đối với cơ thể. Thứ ba,
t́m biết được đường lối đúng đắn để
thi hành hoạt động đó sao cho
có hiệu quả tối hảo đến thân thể và giúp cho tâm
đạt đến một tŕnh
độ và một chủng loại về
định lực thích nghi. Điều nầy tương
hợp với bộ bốn thứ nhứt về thân (kàya).
Kế đến, cứu xét đến các cảm thọ liên
hợp với hoạt động đó, nhứt là
các lạc thọ khởi lên khi hoạt động đó
được thực hiện tốt đẹp và thành công. Nghiên cứu ảnh hưởng
các cảm thọ đó gây ra cho tâm, rồi t́m
cách làm lắng dịu ảnh hưởng đó. Điều
nầy bao gồm bộ bốn thứ hai về cảm thọ (Vedanà).
Bộ bốn thứ ba về tâm (citta) bắt
đầu bằng sự thể nghiệm các loại tâm
trạng khởi lên trong khi hoạt
động đó được thi hành. Rồi chúng ta tập luyện
để khiến cho tâm được hân hoan, tập
trung vào định lực, và
được giải thoát, trong khi thi hành
hoạt động đó. Sau cùng, nơi
bộ bốn thứ tư là bộ bốn quan trọng nhứt, về Pháp
(Dhamma), ta quán tưởng về mọi phương diện của hành
động đó -- về thân, về cảm thọ, và
về tâm -- như là vô thường, khổ sở và vô ngă (aniccam
dukkham anattà). Quán tưởng sự tàn phai và tận diệt của sự bám
níu (= chấp thủ). Quán tưởng sự quẳng bỏ ra phía sau tất cả những
ǵ có dính líu với hoạt động đó.
Pháp Giác niệm về Hơi thở (Anàpànasati)
giải thích cách xử dụng mọi hoạt động
của ta vào việc thực tập Pháp Tứ Niệm Xứ (Satipatthàna).
Mội khi gặp dịp tốt, nên thực tập Pháp Giác niệm về Hơi thở một
cách trực tiếp. Bằng không, th́ thực tập Pháp ấy một cách gián
tiếp xuyên qua một cách thực tập song hành. Những kiến thức mà
chúng ta thâu lượm được qua sự thực
tập song hành tâm quán (citta bhàvanà) sẽ hỗ
trợ và bổ túc cho sự thực tập Giác Niệm về Hơi thở của chúng ta,
và ngược lại. Khi chúng ta đă
biết thẩm lượng giá trị các khả năng
tiềm tàng của mười sáu bước thực tập, th́ luôn luôn
có những cơ hội để phát triển
tâm ngay cả trong những điều
kiện thật là khó khăn.
Mưới sáu bước thực tập -- đặc
biệt là bộ bốn thứ nhứt và bộ bốn thứ tư --
là lư thuyết đầy đủ trong việc loại
trừ khổ sở (dukkha) ra khỏi cuộc
đời. Tôi nguyện cầu cho
các bạn biết xử dụng chúng thật đứng
đắn.
Tôi hi vọng các bạn có thể xử dụng các chi tiết
vừa được giới thiệu. Tôi đă cố
gắng hết sức để tŕnh bầy
chúng được rơ ràng. Xin các
bạn nghiên cứu chúng một cách cẩn thận; cần
đọc qua hơn một lần. Hăy suy
gẫm đầy đủ về chúng. Và, quan
trọng nhứt là hăy thử tập ngay đi.
Qua sự thực tập, sự hiểu biết của bạn về các lời chỉ dẫn sẽ phát
triển thêm. Bạn sẽ cần đến vài
sự điều chỉnh, nhưng phần lớn các sự
điều chỉnh đó sẽ t́m thấy ngay trong sự hiểu biết và ứng
dụng của bạn, hơn là trong lời chỉ dẫn của Pháp sư Phật Lệ (Ajahn
Buddhadàsa). Hăy thử tập theo các lời khuyên của Người. Và
đừng pha trộn các lời khuyên
đó với những ǵ bạn
được nghe đến ở các thiền sư khác vơi
các hệ thống khác của họ. Với sự kiên nhẫn, quyết tâm và
trí huệ, hăy đi sâu vào sự
thực tập và khiến nó dẫn đến tri kiến
về sự vô chấp thủ (= chẳng bám níu nữa), về sự tận diệt khổ sở (dukkha),
về sự an hoà tối thượng cùng sự giải thoát của Niết-bàn (Nibbàna).
-ooOoo-
Tự vựng Pàli-Việt
Àcàŕya: Pháp sư; thầy giảng giáo lư. Tiếng Thái là
Ajahn .
Àdinava: sự bất lợi, nguy cơ, tổn hại; lưỡi câu có mồi. Ám
chỉ phương diện tiêu cực, thấp hèn, xấu ác của một sự vật.
Àna: hơi thở vào, sự thở vào.
Ànapànasati: Giác niệm về Hơi thở; Hơi thở
có ư thức.
Ànapàna = hơi thở vào và hơi thở ra.
Sati = giác niệm tức là sự tỉnh thức. Pháp Giác Niệm về Hơi
thở gồm có 16 bước thực tập, vừa theo dơi hơi thở ra và vào,
vừa quán tưởng 16 đề mục, đưa đến sự
buông bỏ chấp thủ và được giải
thoát.
Anattà: Vô ngă. Muôn sự vật, chẳng trừ sự
vật nào cả, đều khiếm khuyết (thiếu)
hẳn một bản thể cốt lơi để có
thể gọi đó là một "tự ngă"(atta), một
đặc tánh riêng biệt. Chẳng sự
vật nào là có "linh hồn" cả. Nói vô ngă là có ư muốn nói
chẳng thể có tự ngă, chớ chẳng phải nói sự vật
đó chẳng hiện hữu trên thực tế.
Sự vật tuy có đó, nhưng chẳng do tự
nó có lấy được, và chẳng làm của riêng cho một ai
được cả.
Attà, tự ngă, trái nghĩa với Anattà, vô
ngă.
Anicca, Aniccam: Vô thường. Vô thường là
chẳng thường hằng, nay có đó, nhưng
sau lại biến đổi rồi sẽ tiêu diệt mất. Trái với vô
thường là thường hằng.
Anupassanà: sự quán tưởng. Quán
tưởng là sự quán sát bằng nội tâm, nhận xét và nghiên cứu thật sâu
xa về một sự việc. Có bốn lănh vực của sự quán tưởng:
(1) quán tưởng về thân (Kàya
nupassanà);
(2) quán tưởng về cảm thọ (Vedanà nupassanà);
(3) quán tưởng về tâm (citta nupassanà); và
(4) quán tưởng về Pháp (Dhamma nupassanà)
(Pháp ở đây có nghĩa là
các sự vật).
Apàna: Hơi thở ra.
Arahant: A la hán. Vị A la hán là bực
đă diệt dứt hết các phiền năo.
Quả vị A la hán là quả vị cao nhứt của hàng Thanh văn
(= các đệ tử sống gần bên Phật, nghe Kinh mà tu tập theo).
Ariya sacca: Diệu
đế, Chơn lư Nhiệm mầu. Có bốn Chơn Lư nhiệm mầu,
được gọi là Tứ Diệu
đế. Bốn Chơn lư nầy
được Đức Phật Thích ca giảng trong
Kinh Chuyển Pháp luân là bản Kinh
đầu tiên Ngài giảng sau khi
mới thành đạo, cho năm anh em ông
Kiều trần như nghe, tại vườn Lộc uyển, ở thành Ba la nại.
Bốn Chơn lư đó là: (1) Khổ
đế, về các sự khổ sở; (2)
Tập đế về nguồn gốc của
Khổ; (3) Diệt đế về sự
tận diệt các Khổ sở; (4) Đạo đế
về con đường Bát Chánh
Đạo có tám ngành,
đưa đến sự tận diệt Khổ.
Assàda: mồi, mồi ngon ở lưỡi câu che dấu sự
nguy hiểm. Ám chỉ sự hào nháng gạt gẫm, khía cạnh khả ái, dễ say
đắm của một sự vật, thật ra chứa đầy
sự nguy hiểm bên trong.
Attà: Tự ngă.
Đây là một quan niệm sai lầm cho rằng sanh vật, sự vật
đều có "linh hồn", có thể tự ḿnh
tạo ra ḿnh, và độc lập. Trái với
tự ngă là vô ngă.
Apàdànà: sự chấp thủ, sự bám níu, sự
quyến kuyến, sự đắm say đeo chặt vào.
Avijjà: Vô minh, hay si mê. Trái nghĩa với
Vijjà, sự thông minh, sáng suốt, chẳng bị sự ngu dốt che mờ
tâm trí.
Àyatana: Nhập,
đi vào trong, phạm vi,
vùng, giới. Có hai loại nhập:
(1) nội lục nhập, c̣n gọi là sáu căn,
tức là các giác quan ở trong thân thể: mắt, ta,
mũi, lưỡi, thân và ư thức trong tâm;
(2) ngoại lục nhập, c̣n gọi là sáu trần, tức là
sáu h́nh thái của các sự vật bên ngoài: sắc (h́nh dạng và
màu sắc), thanh (tiếng động),
hương (mùi), vị (vị nếm), xúc (sờ
chạm), và pháp (sự việc).
Bhàvanà: sự quán tưởng, sự tăng
trưởng tâm linh bằng quán tưởng. Citta bhàvanà: sự
quán tưởng tâm; sự tập luyện về tâm linh
để vun bồi các đức tánh thiện.
Bojjhanga: Thất giác chi, bảy yếu tố chủa
sự giác ngộ. Đó là: (1)
niệm (sati); (2) trạch pháp (dhamma vicaya)
sự chọn pháp, phân tách pháp; (3) tinh tấn (viriya)
cố gắng, nỗ lực; (4) hỉ (piti), mừng; (5) khinh
an (passaddhi), niềm vui nhẹ nhàng và an ổn; (6)
định (samàdhi),
tâm ư tập trung; (7) xả (upekkhà, tâm biết buông bỏ,
b́nh đẳng, chẳng bám níu vào
đâu. C̣n gọi là Thất Bồ
đề phần.
Citta: Tâm.
Citta sankhàra: Tâm hành, tức là các sự
kiện tạo điều kiện gây ra ảnh hưởng
đến tâm (minh conditioners). Trong pháp Giác niệm về
Hơi thở, các cảm thọ là những tâm hành, v́ như hỉ
(= mừng) và lạc (= vui) có thể khiến cho tâm rung
động lên.
Dhamma: Pháp (= Chánh Pháp) hoặc pháp
(= sự vật). Có hai loại pháp (= sự vật):
(1) pháp hữu vi là những sự vật bị
điều kiện hoá, được tạo tác nên,
bị thay đổi, biến chuyển;
(2) pháp vô vi, tức là Niết-bàn, thường c̣n,
chẳng bị biến đổi, chẳng do tạo tác
mà có.
Chữ Pháp (viết hoa) có nghĩa là Chánh
Pháp do Đức Phật dạy và
truyền lại cho đời sau, là
ngôi thứ hai trong Tam Bảo (Phật Bảo, Pháp Bảo, Tăng
Bảo). Chữ Pháp (viết hoa) trong sách nầy lại c̣n
có bốn nghĩa khác nữa:
(1) Chơn Lư hay Thiên nhiên;
(2) qui luật của thiên nhiên;
(3) nhiệm vụ phải tuân theo qui luật của thiên nhiên;
(4) kết quả của việc tuân phục đó.
Dhamma jàti: pháp giới (tức là toàn thể vũ
trụ); hoặc Thiên nhiên. Bao gồm cả muôn sự vật, kể cả nhơn
(người) và phi nhơn (sanh vật, chẳng phải người).
Dosa: Sân hận, giận hờn.
Dukkha: Khổ sở, sự
đau khổ.
Dukkham: Bất toại nguyện, gây ra sự chẳng
vừa ư, một h́nh thức của khổ sở. V́ sao lại bất toại nguyện?
V́ các sự vật hữu vi (= bị
điều kiện hoá) th́ vô thường, cứ biến
đổi, chẳng được ổn cố, bị suy ṃn
và diệt đi
Ekaggatà: (Tâm) nhứt
điểm, tâm gom lại vào một
điểm duy nhứt trên
đối tượng. Đây là t́nh trạng
tâm đi vào
định lực. Tâm nhứt điểm
là thiền chi thứ năm, thường
được gọi là nhứt tâm.
Idappaccàyatà: Lư duyên sanh, một qui luật
thiên nhiên theo đó muôn sự vật đều
do nhân duyên mà khởi sanh và cũng do nhân duyên
mà diệt đi. Thường được biết dưới
h́nh thức là luật nhân quả.
Jhàna: Thiền na, các t́nh trạng mà tâm
lần lượt đi qua để nhập vào
Định. Thường
được gọi tắt là Thiền.
Có bốn cấp Thiền: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ
thiền (đôi khi c̣n có thêm Ngũ
thiền). Bốn cấp nầy thuộc về Sắc thiền, v́ hành giả nhờ
quán tưởng các đối tượng có h́nh
sắc trong cơi dục giới mà nhập vào
Định.
Jhànanga: Thiền chi, các yếu tố của Thiền.
Ở Sơ thiền có năm
thiền chi: (1) giác (Vitakka, nay
gọi là tầm, tâm dán lên đối
tượng để quan sát); (2) quán (Vicàra, nay
gọi là tứ, tâm đeo chặt vào
đối tượng để quán tưởng); (3)
hỉ (piti, nổi mừng, tâm c̣n xao
động); (4) lạc (sukha,
niềm vui, tâm yên tịnh lại trong niềm hoan lạc; (5) nhứt
tâm (ekaggatà, tức là nhứt
điểm tâm, t́nh trạng tâm
gom vào một điểm trên
đối tượng, tức là nhập
định.
Ba cấp Thiền c̣n lại lần lượt buông rơi bốn
thiền chi đầu của Sơ thiền, để có
được ở bực Tứ Thiền với ba thiền chi: xả, niệm và nhứt
tâm.
Kalyana mitta: Thiện hữu tri thức, thường
gọi tắt là Thiện tri thức, tức là người bạn hữu tốt, chỉ
dạy giáo lư và kinh nghiệm tu tập.
Kàma: Nhục cảm, t́nh cảm ham muốn về sự
thoả măn các đ̣i hỏi của giác
quan hay của t́nh dục.
Kàya: Thân, c̣n có nghĩa là nhóm, tập hợp
của nhiều bộ phận hay sự vật. Thường có nghĩa là thân
thể, tấm thân vật chất. Trong pháp Giác Niệm về Hơi thở, chữ
toàn thân bao gồm cả thânvật chất và các luồng hơi thở. Các
luồng hơi thở được gọi là
thân hơi.
Kàya sankhàra: Thân hành, (body
conditioners) là các sự kiện tạo
điều kiện gây ảnh hưởng đến cho thân. Trong pháp Giác Niệm về Hơi
thở, chữ thân hành trỏ vào các hơi thở, v́ hơi thở
điều kiện hoá thân thể, tức là,
khi hơi thở có êm dịu th́ thân thể mới an ổn.
Khandha: Uẩn hoặc Ấm. Thân tâm có năm
uẩn: (1) sắc uẩn (rùpa khandha) thuộc
về thân vật chất; và bốn uẩn kia thuộc về tinh thần: (2) thọ
uẩn (vedanà khandha), các cảm thọ; (3) tưởng uẩn
(sannà khandha), các tri giác; (4) hành uẩn (sankhàra
khandha), các tư tưởng; (5)thức uẩn (vinnàna khandha),
các sự hiểu biết. Khi năm uẩn trở thành
cơ sở cho sự bám níu (= chấp thủ), th́ chúng
được gọi là thủ uẩn (upàdanà
khandha).
Kilesa: Phiền năo, hay lậu hoặc, làm tâm dơ
bẩn chẳng được thanh tịnh, hoặc các
sự sai lầm gây ra khổ sở. Có ba phiền năo chánh,
thường được gọi là Tam
độc: tham (lobha),
sân (dosa), và si (moha).
Lobha: Tham lam.
Loka: Thế giới, vũ trụ, pháp giới.
Lokiya: Thế tục,
đời sống tại gia, đời sống c̣n
ràng buộc v́ gia đ́nh, xă hội,
chưa vượt qua khỏi cơi thế gian.
Lokuttara: Xuất thế, vượt lên khỏi cơi thế
gian.
Magga: Đạo,
tức là con đường tu tập, đường
lối tu tập
Magga phala nibbàna:
Đạo và Quả Niết-bàn, tức
là con đường tu tập, và quả vị
đă thành tựu về Niết-bàn.
Đạo là
đường lối tu tập tận diệt các phiền năo.
Quả vị là kết quả của việc tu tập
đă thành công viên măn.
Niết-bàn, ở
đây, là sự thanh lương, nhờ đă
tận diệt được hết các phiền năo
trước kia nung nấu.
Mahaggatà: trở nên vĩ
đại.
Mano: Ư thức. Chữ ư thức c̣n dùng
để dịch chữ Vinnàna.
Chỗ khác nhau giữa ba danh từ Mano, Vinnàna và
Citta:
(1) Mano trỏ vào cơ năng
trí thức của ư thức, như hay biết, cảm thấy, thể nghiệm và
hiểu biết.
(2) Vinnàna nói đến phạm vi
của các giác quan thu nhận các tri giác.
(3) Citta là phương diện chủ quan của tâm.
Màra: Ma; sự cám dỗ ta
đi vào
đường ác, có hành vi xấu.
Moha: Si mê, phiền năo thứ ba trong Tam
Độc (tham, sân và si); ngu si,
mê mờ.
Nibbàna: Niết-bàn; ở
đây, sự thanh lương, mát mẻ.
Niết-bàn là mục tiêu tối hậu của nền Phật học. Niết-bàn
hiện khởi khi lửa nung nầu của các phiền năo
đă
được dập tắt, chẳng c̣n dư tàn;
sự bám níu (chấp thủ), ích kỷ và Khổ sở
đă hoàn toàn tận diệt.
Nibbuto: sự thanh lương; người
đắc được thanh lương. Có hai cảnh
trạng về sự thanh lương (nibbuto):
(1) Sàmàyika nibbàna, t́nh trạng thanh
lương tạm thời;
(2) Tadanga nibbàna, t́nh trạng thanh lương ngẫu nhiên.
(Xin nơi tiểu mục: "Niết-bàn tại
đây và ngay bây giờ".)
Nimitta: Điềm,
hay triệu, để
báo trước (thường dịch là Tướng hay
Định tướng). Ở
đây, nimitta là một tâm
ảnh do tâm tạo nên để nh́n vào
điểm canh chừng hơi thở đi ngang qua,
để đi vào tới Định lực. (Xin
xem lại nơi các tiểu mục: "Một tâm ảnh khởi lên" và
"Tâm ảnh cuối cùng")
Nirodha: sự Tịch diệt, sự tận diệt,
sự chấm dứt đến tận gốc rễ. Cùng
một nghĩa với chữ Niết-bàn.
Nivarana: Ngũ cái, năm
món che đậy:
(1) tham lam, nhứt là tham t́nh dục (kàmachandha);
(2) sân khuể (vyàpàda, oán giận)
(3) thụy miên (thina middha, lười, mê ngủ)
(4) trạo hối (uddhacca kukkucca, xao
động, hối tiếc)
(5) nghi ngờ (vicikicchà).
Panna: Bát nhă, Trí Huệ.
Paticca samuppàda: lư Duyên sanh; c̣n
được gọi là Thập Nhị Nhân
Duyên: (gây nên sự Khổ sở (dukkha) (1) Vô minh (avijjà),
(2) Hành (sankhàra), (3) Thức (vinnàna), (4) Danh
sắc (nàma rùpa), (5) Lục nhập (salàyatana), (6) Xúc
(phassa), (7) Thọ (vedanà), (8) Ái (tanha,
khát ái), (9) Thủ (upàdàna, bám níu)(10)Hữu (bhava,
hiện hữu) (11) Sanh (jàti), (12) Tử (jàra marana).
Patinissaga: Sự từ bỏ; sự quẳng bỏ lại ra phía
sau; sự chấm dứt bám níu vào sự vật mà gọi
đó là "Ta", hay "của Ta"; sự
vứt bỏ mọi sự vật để hoàn trả
lại cho Thiên nhiên.
Phassa: Xúc; sự tiếp xúc giữa ba sự việc:
(1) đối tượng bên ngoài, (2)
giác quan trong thân, (3) ư thức hay biết có
đối tượng đi vào tâm. Tức là,
một vật được thấy, tại
mắt và tâm hay biết là
đang có thấy vật đó. Có sáu loại xúc với năm
giác quan và ư thức ở tâm.
Ṕti: Hỉ; nổi mừng, sự bằng ḷng, sự thoả
ư, sự ngất ngây, do từ một cảm thọ sướng (lạc thọ) khởi lên
khi ta làm xong việc ǵ được thành
công.
Hỉ (piti, nổi mừng) khác với niềm
vui, Lạc (sukha), v́ khi có Hỉ, tâm c̣n nhảy
nhót mừng lên mà rung động, nhưng với
Lạc, tâm lắng dịu lại, nhẹ nhàng an hưởng niềm vui.
Prana (tiếng Phạn), Pàna (tiếng
Pali): Sanh lực, Hơi thở; sự vật
đă nuôi dưỡng và bảo tŕ
đời sống.
Pranayàma: Sự kiểm soát hơi thở, sự huấn
luyện hơi thở.
Ràga: Sự khao khát, sự tham lam ham muốn,
khát khao về t́nh dục.
Sacca: Chơn Lư, Sự Thật.
Sacca dhamma: Sự kiện thực tế; Thực tế; Sự kiện.
Samàdhi: Định lực,
Định; (phiên âm đọc là
Tam ma đề).
Định là t́nh trạng của
tâm tập trung lại, qui về một điểm trên
đối tượng đang quán tưởng trong tâm.
Đây là một t́nh trạng thanh tịnh, ổn cố, dơng mănh, sẵn
sàng, mềm dẽo và êm dịu. Định học
là mộn học thứ hai trong ba môn vô lậu học (sikkhà).
Tam vô lậu học là Giới học,
Định học và Huệ học (sila, samàdhi, pannà).
Sampajannà: Trí phân biện; sự thông hiểu rơ
ràng, trong -sáng và sẵn sàng; sự vận dụng Trí huệ
để ứng phó với một t́nh trạng
đặc biệt hiện có.
Sankhàra: Chư hành, tất cả hiện tượng, hoặc
các sự vật hữu vi, bị điều kiện hoá,
tùy duyên mà hiện hữu. Chư hành thể hiện dưới ba
phương diện:
(1) như là một sự kiện tạo ra
điều kiện (the
conditioner), tức là nguyên nhân của ảnh hưởng
đă gây ra;
(2) như là một động tác gây
ra ảnh hưởng của điều kiện (the
conditioning);
(3) như là một t́nh trạng của
điều kiện, hay là chính
điều kiện đó, sẽ gây ra một ảnh hưởng cho
sự vật bị điều kiện hoá (the
conditions).
Chữ Hành c̣n chỉ
đến một uẩn trong năm
uẩn của thân tâm, tức là hành uẩn, thường
được dịch ra Anh ngữ là
intellectual formations.
Santi: Sự an hoà, sự tĩnh lặng tinh thần.
Sàsana: Giáo lư, giáo pháp về lư thuyết và thực hành.
Sati: Giác niệm, một niệm, một ư tưởng
trong đầu mà biết rơ ḿnh
đang nghĩ ǵ. C̣n
được dịch là: sự
tỉnh thức, sự tỉnh giác, hay là sự quán niệm. Giác
niệm là cổ xe chuyên chở Trí Huệ Bát Nhă (Panna); thiếu
giác niệm, th́ chẳng thể phát triển và ứng dụng
được Trí Huệ. Giác niệm
chẳng phải là kư ức (trí nhớ), mặc dầu cả hai, giác niệm và kư ức,
rất liên hệ chặt chẽ với nhau. Giác niệm cũng chẳng phải
chỉ là sự chú ư suông, c̣n hơn thế nữa. Tóm lại, chính
giác niệm giúp ta hay biết rơ ràng là ta
đang làm ǵ và
đang nghĩ hay đang nói những ǵ.
Giác niệm c̣n được gọi là
Chánh niệm trong Bát Chánh Đạo.
Satipatthàna: Tứ Niệm Xứ, Bốn Lănh vực của sự
tỉnh thức. Bốn cơ sở để an trú
giác niệm trong sự phát triển tâm linh. Ta nghiên
cứu, tra tầm về đời sống qua bốn đề
mục đó: thân, cảm thọ, tâm và pháp (Kàya, vedanà,
citta, Dhamma.)
Sikkhà: Vô lậu học. Ba môn Vô lậu học là
Giới học (sila), Định học (samadhi)
và Huệ học (Panna, Bát nhă).
Śla: Giới, các
điều răn cấm. Đứng đầu trong ba môn
Vô lậu học là Giới. Giữ giới cho thanh tịnh th́ ba
nghiệp, thân, miệng và ư
đều thanh tịnh.
Sukha: Lạc, niềm vui. Lạc (vui) khác hơn
Hỉ (mừng) ở chỗ là tâm an hưởng niềm vui một cách êm
đềm, mà chẳng hề xao
động, nhảy nhót như lúc mừng rơn.
Lạc thọ (sukha vedanà) là một cảm thọ
vui sướng, êm dịu, trái với Khổ thọ (dukkha vedanà)
buồn khổ, khó chịu.
Sunnatà: Tánh không, rỗng rang, rỗng không.
Tánh không đây chẳng phải là
không ngơ, chẳng phải là chẳng có ǵ hết ráo trọi. Không, ở
đây, là chẳng có tự thể, chẳng
hề có cốt lơi, tựa như thân cây chuối, có
đó, nhưng lột bẹ ra hết, th́
rỗng rang, ngoài đống bẹ nằm bên
cạnh. Không, ở đây, là
chẳng có một cái ǵ trong nó có thể gọi là "tự ngă", chẳng có "linh
hồn"ǵ hết ráo; v́ thế, chẳng thể lấy sự vật nào làm cái ‘Ta" hay
là làm ‘của Ta" được cả. Tóm lại, nói
Không, là nói chẳng có tự ngă. Tánh không là
t́nh trạng rỗng vắng, có đó chớ chẳng
phải không có ǵ ráo, và chẳng bị ô nhiễm, hoàn toàn tránh
khỏi mọi lậu hoặc hay phiền nẵo.
Tanha: Sự Khát ái, sự ham muốn thái
quá, sự khao khát quá mức. Khát ái là nguồn gốc gây ra sự
Khổ sở (dukkha), theo Chơn Lư Nhiệm mầu thứ hai tức là
Tập đế trong Tứ diệu
đế (ariya sacca).
Đừng lẫn lộn với sự ham muốn chánh
đáng (sammà sankappa). Sự khát ái khởi sanh
từ một cảm thọ (vedanà) có
đầy cuồng vọng, để rồi làm
nguyên nhân cho sự bám níu hay là sự chấp thủ (upàdàna).
Tathatà: Như thị, như thế vậy thôi,"chỉ như
vậy mà thôi". Như thị (Tathatà) có nghĩa cứ như thế,
chẳng phải vầy, mà cũng chẳng phải kia, là một thực tế phi nhị
nguyên (non dualist). Muôn sự vật đều
như thị, nghĩa là chúng vô thường, bất
toại nguyện và vô ngă như vậy, dầu cho chúng ta có thương hay
ghét chúng, dầu cho chúng ta có tin tưởng, hay tưởng tượng, hay hi
vọng ǵ về chúng đi nữa, chúng vẫn là
"như thế".
Upàdàna: Sự chấp thủ, sự bám níu, sự
tríu mến. Sự chấp thủ là sự cố bám chặt vào sự vật ǵ một
cách điên rồ, và xem sự vật
đó như là "Ta" hay là "của
Ta".
Vedanà: Cảm thọ, cảm giác. Có ba loại cảm
thọ: (1) lạc thọ (sukha vedanà) cảm thấy thích thú,
dễ
chịu, sảng khoái; (2) khổ thọ (dukkha
vedanà) cảm thấy chẳng mấy được
thích thú, và khó chịu, bứt rứt. (3) xả thọ (adukkhamasukha
vedanà), chẳng lạc chẳng khổ, có tính trung hoà. Cảm thọ bị
điều kiện hoá bởi xúc (phassa);
nếu nó khởi lên trong sự si mê, th́ sẽ
đưa đến sự khao khát, thèm
thuồng.
Vijjà: sự minh triết,
đồng nghĩa với Trí Huệ, với Bát nhă
(Pannà), nhưng trái nghĩa với sự Vô minh (Avijjà),
hay là sự ngu mê.
Vimutti: Giải thoát, giải phóng. Sự giải
thoát có nghĩa là được thoát khỏi
hoàn toàn mọi sự ràng buộc, diệt tận
được mọi phiền năo (kilesa)
và khổ sở (dukkha), và chứng
đắc được cơi Niết-bàn (Nibbàna).
Vinnàna: Thức, Ư thức. Ư thức là sự hiểu
biết của tâm khi thu nhận các cảm giác ở các giác quan về
đối tượng chuyển vào trong nội
tâm. Có sáu thức: nhăn thức (sự hiểu biết qua mắt
thấy), nhĩ thức (tai), tị thức (mũi), thiệt thức (lưỡi), thân thức
(ở da trên thân) và ư thức (ư nghĩ ở tâm). Nhờ có thức, các
hoạt động tâm linh mới có thể thực
hiện đối với thế giới (loka) bên ngoài và ta mới có
thể thể nghiệm được các cảm giác từ
các giác quan đưa đến.
Vipassanà: Sự Minh sát; theo nghĩa
từ chữ, là "thấy rơ". Nhờ có sự Minh sát, tâm mới nh́n
thẳng vào bản thể chơn thật của muôn sự vật một cách trực tiếp,
để thấy ra thật rơ ràng rằng
chúng đều là vô thường, khổ
sở, và vô ngă (aniccam dukkham anattà).
Viràga: sự vô chấp thủ, sự chẳng c̣n
chấp thủ nữa, sự phá tan và tận diệt các việc luyến ái, tríu mến,
bám níu vào. Trái nghĩa với chấp thủ (ràga).
Viveka: Sự
độc cư, sự ở ẩn, sống nơi vắng vẻ một ḿnh.
Đây là t́nh trạng của thân
tâm nhờ sống độc cư trong sự tịch
tĩnh, nên giữ được
thân chẳng bị cảnh vật xung quanh khuấy rầy, tâm dứt
mọi ràng buộc, mọi phiền năo.
Vossagga: Sự từ bỏ, sự vứt bỏ ra
phía sau, sự từ khước. Đây là
sự biết buông bỏ tự nhiên của tâm đă
giải thoát. Đồng nghĩa với
Nibbàna và Patinissagga.
-ooOoo-
Phần Kinh văn
Kinh Nhập tức, Xuất tức niệm
(Ànàpànasati )
Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế tôn ở Savatthi, tại
Đông Viên (Pubbarama),
giảng đường Lộc Mẫu (Migaramatupasade),
cùng với rất nhiều Thượng toạ có thời danh, có danh xưng... như
Tôn giả Sariputta (Xá lợi phất), Tôn giả Mahamoggallana
(Đại Mục kiền liên),Tôn
giả Mahakaccayana (Đại Ca chiên
diên), Tôn giả Mahakotthita (Đại
Câu hy la), Tôn giả Maha kappina (Đại
Kiếp tân na), Tôn giả Mahacunda (Đại
Thuần đà), Tôn giả Anuruddha (A na luật), Tôn giả
Revata (Ly bà đa) và Tôn
giả Ananda (A nan), cùng với nhiều bậc Thượng toạ
đệ tử khác có thời danh, có danh xưng.
Lúc bấy giờ, các Thượng toạ Tỳ kheo khuyến giáo, giảng dạy các tân
Tỳ kheo. Một số Thượng tạo Tỳ kheo khuyến giáo, giảng dạy mười tân
Tỳ kheo. Một số Thượng tọa Tỳ kheo khuyến giáo, giảng dạy hai mươi
tân Tỳ kheo. Một số Thượng toạ Tỳ kheo khuyến giáo, giảng dạy ba
mươi tân Tỳ kheo. Một số Thượng toạ Tỳ kheo khuyến giáo, giảng dạy
bốn mươi tân Tỳ kheo. Và các tân Tỳ kheo
được các Thượng toạ Tỳ kheo khuyến
giáo, giảng dạy ư thức rơ ràng những quả vị cao diệu, tiệm
thứ, thù thắng đă chứng
đạt. Lúc bấy giờ, Thế tôn vào
ngày Bố tát, ngày rằm, vào đêm
trăng tṛn sau ngày Tự tứ,
đang ngồi giữa trời với chúng Tỳ kheo
đoanh vây.
Thế tôn nh́n quanh chúng Tỳ kheo
đang yên lặng, hết sức yên
lặng, rồi bảo các Tỳ kheo:
- Ta được thoả măn,
nầy các Tỳ kheo, với đạo lộ nầy. Tâm
ta được thoả măn, nầy các Tỳ kheo, với
đạo lộ nầy. Do vậy, nầy các Tỳ kheo,
hăy tinh tấn hơn nữa, để chứng
đạt những ǵ chưa chứng đắc,
để chứng ngộ những ǵ chưa chứng ngộ. Ta sẽ ở
đây, tại Savatthi cho đến tháng tư,
lễ Komudi.
Những Tỳ kheo địa
phương được nghe: "Thế tôn sẽ ở đây, tại Savatthi, cho đến tháng
tư, lễ Komudi." Các Tỳ kheo địa phương tụ họp tại Savatthi để yết
kiến Thế tôn. Và các Thượng toạ Tỳ kheo lại càng khuyến
giáo, giảng dạy các tân Tỳ kheo nhiều hơn nữa. Một số Thượng toạ
Tỳ kheo khuyến giáo, giảng dạy mười tân Tỳ kheo. Một số Thượng tọa
Tỳ kheo khuyến giáo, giảng dạy hai mươi tân Tỳ kheo. Một số Thượng
tọa Tỳ kheo khuyến giáo, giảng dạy ba mươi tân Tỳ kheo. Một số
Thượng tọa Tỳ kheo khuyến giáo, giảng dạy bốn mươi tân Tỳ kheo. Và
những tân Tỳ kheo được các Thượng tọa
Tỳ kheo khuyến giáo, giảng dạy ư thức rơ ràng những quả vị
cao diệu, thù thắng đă chứng
đạt. Lúc bấy giờ Thế tôn vào
ngày Bố tát, ngày rằm, vào đêm
trăng tṛn, ngày lễ Komudi vào
tháng tư, Thế tôn đang ngồi ngoài
trời, chung quanh có chúng Tỳ kheo
đoanh vây.
Rồi Thế tôn sau khi nh́n xung quanh chúng Tỳ
kheo đang yên lặng, hết sức
yên lặng, liền bảo các Tỳ kheo:
- Hội chúng nầy, nầy các Tỳ kheo, không có lời
thừa thải. Hội chúng nầy, nầy các Tỳ kheo, không có lời dư thừa,
đă
được an trú trong lơi cây
thanh tịnh. Chúng Tỳ kheo như thế nầy, nầy các Tỳ kheo, hội chúng
như thế nầy, nầy các Tỳ kheo, là một hội chúng
đáng được cung kính, đáng được tôn
trọng, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay, là phước
điền vô thượng ở đời. Chúng Tỳ kheo
như thế nầy, nầy các Tỳ kheo, là một hội chúng bố thí ít,
được (phước báo) nhiều, bố thí nhiều,
càng được (phước báo) nhiều
hơn nữa. Chúng Tỳ kheo như thế nầy, nầy các Tỳ kheo, hội chúng như
thế nầy, nầy các Tỳ kheo, là một hội chúng khó thấy ở
đời. Chúng Tỳ kheo như thế nầy, nầy
các Tỳ kheo, là một hội chúng xứng
đáng đi nhiều do tuần (yojana)
với một bao lương thực trên vai để
đến yết kiến. Chúng Tỳ kheo nầy là như vậy, nầy các Tỳ kheo.
Nầy các Tỳ kheo, trong chúng Tỳ kheo nầy, có những Tỳ kheo là
những A la hán, các lậu hoặc đă
đoạn trừ, Phạm hạnh đă thành,
các việc nên làm đă làm, gánh
nặng đă
đặt xuống, mục đích đă thành
đạt, hữu kiết sử đă
được đoạn tận, được giải thoát nhờ
chánh trí. Nầy các Tỳ kheo, có những bậc Tỳ kheo như vậy trong
chúng Tỳ kheo nầy. Nầy các Tỳ kheo, trong chúng Tỳ kheo nầy, có
những Tỳ kheo đă đoạn trừ năm
phần hạ kiết sử, được hoá sanh, từ ở đấy được nhập Niết-bàn,
không c̣n phải trở lại đời nầy nữa.
Các bậc Tỳ kheo như vậy, nầy các Tỳ kheo, có mặt trong chúng Tỳ
kheo nầy. Nầy các Tỳ kheo, trong chúng Tỳ kheo nầy, có những Tỳ
kheo đă đoạn trừ ba kiết sử, đă
làm cho muội lược tham, sân, si, là bậc Nhất lai, sau khi sanh vào
đời nầy một lần nữa, sẽ đoạn tận khổ
đau. Các bậc Tỳ kheo như vậy, nầy các Tỳ kheo, có mặt trong chúng
Tỳ kheo nầy. Nầy các Tỳ kheo, trong chúng Tỳ kheo nầy có những Tỳ
kheo dă đoạn trừ ba kiết sử, là
bậc Dự lưu, không c̣n đoạ vào
ác đạo, chắc chắn sẽ được giác ngộ.
Các bậc Tỳ kheo như vậy, nầy các Tỳ kheo, có mặt trong chúng Tỳ
kheo nầy. Nầy các Tỳ kheo, trong chúng Tỳ kheo nầy, có những Tỳ
kheo là những vị sống chuyên tâm, chú tâm, tu tập bốn niệm
xứ. Các bậc Tỳ kheo như vậy, nầy các Tỳ kheo, có mặt trong chúng
tỳ kheo nầy. Nầy các Tỳ kheo, trong chúng Tỳ kheo nầy, có những Tỳ
kheo là những vị sống chuyên tâm, chú tâm, tu tập bốn chánh cần.
Các bậc Tỳ kheo như vậy, nầy các Tỳ kheo, có mặt trong hội chúng
nầy. Nầy các Tỳ kheo, trong chúng Tỳ kheo nầy, có những Tỳ kheo
sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bốn như ư túc. Các bậc Tỳ kheo như
vậy, nầy các Tỳ kheo, có mặt trong chúng Tỳ kheo nầy. Nầy các Tỳ
kheo, trong chúng Tỳ kheo nầy, có những Tỳ kheo, sống chuyên tâm,
chú tâm tu tập năm căn. Các bậc tỳ
kheo như vậy, nầy các Tỳ kheo, có mặt trong chúng Tỳ kheo nầy. Nầy
các Tỳ kheo, trong chúng Tỳ kheo nầy, có những Tỳ kheo, sống chuyên
tâm, chú tâm tu tập năm lực. Các bậc
Tỳ kheo như vậy, nầy các Tỳ kheo, có mặt trong chúng Tỳ kheo nầy.
Nầy các Tỳ kheo, có những Tỳ kheo, sống chuyên tâm, chú tâm
tu tập bảy giác chi. Các bậc Tỳ kheo như vậy, nầy các Tỳ kheo, có
mặt trong chúng Tỳ kheo nầy. Nầy các Tỳ kheo, trong chúng Tỳ kheo
nầy có những Tỳ kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập Thánh
đạo tám ngành. Các bậc Tỳ kheo
như vậy, nầy các Tỳ kheo, có mặt trong chúng Tỳ kheo nầy. Nầy các
Tỳ kheo, trong chúng Tỳ kheo nầy, có những Tỳ kheo, sống chuyên
tâm, chú tâm tu tập từ (tâm). Các bậc Tỳ kheo như vậy, nầy các Tỳ
kheo, có mặt trong chúng Tỳ kheo nầy. Nầy các Tỳ kheo, trong chúng
tỳ kheo nầy, có những Tỳ kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bi
(tâm). Các bậc Tỳ kheo như vậy, nầy các Tỳ kheo, có mặt trong
chúng Tỳ kheo nầy. Nầy các Tỳ kheo, trong chúng Tỳ kheo nầy, có
những Tỳ kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập hỷ (tâm). Các bậc
Tỳ kheo như vậy, nầy các Tỳ kheo, có mặt trong chúng tỳ kheo nầy.
Nầy các Tỳ kheo, trong chúng Tỳ kheo nầy, có những Tỳ kheo, sống
chuyên tâm, chú tâm tu tập xả (tâm). Các bậc Tỳ kheo như vậy, nầy
các Tỳ kheo, có mặt trong chúng Tỳ kheo nầy. Nầy các Tỳ kheo,
trong chúng Tỳ kheo nầy, có những Tỳ kheo, sống chuyên tâm, chú
tâm tu tập bất tịnh. Các bậc Tỳ kheo như vậy, nầy các Tỳ kheo, có
mặt trong chúng Tỳ kheo nầy. Nầy các Tỳ kheo, trong chúng tỳ kheo
nầy, có những tỳ kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập vô thưởng
tưởng. Các bậc Tỳ kheo như vậy, nầy các Tỳ kheo, có mặt trong
chúng Tỳ kheo nầy. Nầy các Tỳ kheo, trong chúng Tỳ kheo nầy, có
những Tỳ kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập nhập tức, xuất tức
niệm. Nhập tức, xuất tức niệm, được
tu tập, làm cho sung măn, khiến cho bốn niệm xứ
được viên măn. Bốn niệm xứ
được tu tập, làm cho sung măn,
khiến cho bảy giác chi được sung măn.
Bảy giác chi được tu tập, làm
cho sung măn, khiến cho minh giải thoát (vijjavimutti)
được sung măn.
Và nầy các Tỳ kheo, như thế nào là tu tập nhập
tức, xuất tức niệm? Như thế nào làm cho sung măn? Như thế nào là
quả lớn, công đức lớn? Ở đây, nầy các
Tỳ kheo, Tỳ kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi
nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và trú niệm trước
mặt. Chánh niệm, vị ấy thở vô; chánh niệm, vị ấy thở ra. Thở vô
dài, vị ấy biết: "Tôi thở vô dài." Hay thở ra dài, vị ấy biết: "Tôi
thở ra dài." Hay thở vô ngắn, vị ấy biết: "Tôi thở vô ngắn."Hay
thở ra ngắn, vị ấy biết: "Tôi thở ra ngắn." "Cảm giác cả toàn thân,
tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra",
vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh
thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở
vô", vị ấy tập. "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm
giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ
thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập.
"Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành,
tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra", vị
ấy tập. "Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác về
tâm, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô",
vị ấy tập. "Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm
định tĩnh, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập.
"Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm giải thoát,
tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra", vị
ấy tập. "Quán vô thường, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán vô
thường, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán ly tham, tôi sẽ thở vô",
vị ấy tập. "Quán ly tham, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán
đoạn diệt, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập.
"Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ
thở vô", vị ấy tập. ‘Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Nhập
tức, xuất tức niệm, nầy các Tỳ kheo, tu tập như vậy, làm
cho sung măn như vậy, được quả lớn,
được công đức lớn.
Và như thế nào, nầy các Tỳ kheo, là nhập tức,
xuất tức niệm được tu tập? Như thế nào,
làm cho sung măn, khiến bốn niệm xứ
được viên măn? Khi nào, nầy các Tỳ kheo, Tỳ kheo thở vô dài,
vị ấy biết: "Tôi thở vô dài". Hay khi thở ra dài, vị ấy biết: "Tôi
thở ra dài". Hay thở vô ngắn, vị ấy biết: "Tôi thở vô ngắn." Hay
khi thở ra ngắn, vị ấy biết: "Tôi thở ra ngắn." "Cảm giác cả toàn
thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ
thở ra", vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập.
"An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Trong khi tùy quán
thân trên thân, nầy các Tỳ kheo, vị Tỳ kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh
giác, chánh niệm dể chế ngự tham ưu ở
đời. Nầy các Tỳ kheo, đối với các thân, Ta nói đây là một,
tức là thở vô thở ra. Do vậy, nầy các Tỳ kheo, trong khi tùy quán
thân trên thân, vị Tỳ kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm
để chế ngự tham ưu ở đời. Khi nào,
nầy các Tỳ kheo, vị Tỳ kheo nghĩ: "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô",
vị ấy tập. "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác
tâm hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác tâm hành, tôi sẽ
thở ra", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành, tôi sẽ vô", vị ấy tập. "An
tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Trong khi tùy quán thọ
trên các thọ, nầy các Tỳ kheo, Tỳ kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác,
chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
Nầy các Tỳ kheo, đối với các cảm thọ, Ta nói đây là một,
tức là thở vô thở ra. Do vậy, nầy các Tỳ kheo, trong khi tùy quán
thọ trên các cảm thọ, Tỳ kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh
niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Khi nào,
nầy các Tỳ kheo, Tỳ kheo nghĩ: "Cảm giác tâm, tôi sẽ thở vô". Vị
ấy tập. "Cảm giác tâm, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm hân
hoan, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra",
vị ấy tập. "Với tâm Thiền định, tôi
sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm Thiền định, tôi sẽ thở ra", vị ấy
tập. "Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm giải
thoát, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Trong khi tùy quán tâm
trên tâm, nầy các Tỳ kheo, Tỳ kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác,
chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời.
Nầy các Trỳ kheo, sự tu tập nhập tức xuất tức niệm không thể đến
với kẻ thất niệm, không có tỉnh giác. Do vậy, nầy các Tỳ kheo,
trong khi tùy quán tâm trên tâm, Tỳ kheo trú, nhiệt tâm,
tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự
tham ưu ở đời. Khi nào, nầy các Tỳ kheo, Tỳ kheo nghĩ: "Quán
vô thường, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán vô thường, tôi sẽ thở
ra", vị ấy tập. "Quán ly tham, ... quán
đoạn diệt, ... quán từ bỏ, tôi sẽ thở
vô", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Trong khi
tùy quán pháp trên các pháp, nầy các Tỳ kheo, Tỳ kheo an
trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm
để chế ngự tham ưu ở đời. Vị ấy đoạn trừ tham ưu, sau khi thấy với
trí huệ, khéo nh́n (sự vật) với niệm xả ly. Do vậy, nầy các
Tỳ kheo, trong khi tùy quán pháp trên các pháp, Tỳ kheo trú, nhiệt
tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự
tham ưu ở đời. Nhập tức, xuất tức niệm, nầy các Tỳ kheo, được tu
tập như vậy, được làm cho sung măn như vậy, khiến cho bốn
niệm xứ được viên măn.
Và bốn niệm xứ, nầy các Tỳ kheo, tu tập như thế
nào, làm cho sung măn như thế nào, khiến cho bảy giác chi
được viên măn? Nầy các Tỳ kheo,
trong khi tùy quán thân trên thân, Tỳ kheo trú, nhiệt tâm tỉnh
giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở
đời, trong khi ấy, niệm không hôn mê của vị ấy
được an trú. Trong khi niệm không hôn
mê của vị ấy cũng được an trú,
nầy các Tỳ kheo, trong khi ấy niệm giác chi được bắt đầu khởi lên
với Tỳ kheo, trong khi ấy, Tỳ kheo tu tập niệm giác chi. Trong khi
ấy, niệm giác chi được Tỳ kheo tu tập
đi đến viên măn. Nầy các Tỳ kheo, trong khi trú với chánh
niệm như vậy, Tỳ kheo với trí huệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy.
Nầy các Tỳ kheo trong khi trú với chánh niệm như vậy, Tỳ kheo với
trí huệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy, trong khi ấy trạch pháp
giác chi được bắt đầu khởi lên
với Tỳ kheo. Trong khi ấy, Tỳ kheo tu tập trạch pháp giác chi.
Trong khi ấy, trạch pháp giác chi
được Tỳ kheo tu tập đi đến viên măn. Nầy các Tỳ kheo, trong
khi Tỳ kheo với trí huệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy, sự tinh
tấn không thụ động bắt đầu khởi lên
với vị Tỳ kheo. Nầy các Tỳ kheo, trong khi Tỳ kheo với trí huệ suy
tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy, trong khi ấy sự tinh tấn không thụ
động bắt đầu khởi lên với Tỳ
kheo ấy. Trong khi ấy tinh tấn giác chi
được bắt đầu khởi lên nơi Tỳ
kheo. Trong khi ấy, Tỳ kheo tu tập tinh tấn giác chi, Trong khi ấy,
tinh tấn giác chi được Tỳ kheo tu tập
đi đến viên măn. Hỷ không liên hệ
đến vật chất được khởi lên nơi
vị tinh tấn tinh cần. Nầy các Tỳ kheo, trong khi hỷ không liên hệ
đến vật chất khởi lên nơi Tỳ
kheo tinh tấn tinh cần, trong khi ấy, hỷ giác chi bắt
đầu khởi lên nơi Tỳ kheo.
Trong khi ấy, hỷ giác chi được vị Tỳ
kheo tu tập. Trong khi ấy, hỷ giác chi được Tỳ kheo tu tập đi đến
viên măn. Thân của vị ấy được
tâm hoan hỷ trở thành khinh an, tâm cũng
được khinh an. Nầy các Tỳ kheo, trong
khi Tỳ kheo với ư hoan hỷ được thân khinh an, trong khi ấy, khinh
an giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỳ kheo. Trong khi ấy,
khinh an giác chi được Tỳ kheo tu tập.
Trong khi ấy, khinh an giác chi được Tỳ kheo làm cho
đi đến sung măn. Một vị có
thân khinh an, an lạc, tâm vị ấy được
định tĩnh. Nầy các Tỳ kheo, trong khi Tỳ kheo có thân khinh an, an
lạc, tâm vị ấy được định tĩnh, trong khi ấy định giác chi bắt đầu
khởi lên nơi Tỳ kheo. Trong khi ấy
định giác chi được Tỳ kheo tu tập.
Trong khi ấy, định giác chi được Tỳ kheo làm cho
đi đến sung măn. Vị ấy với tâm
định tĩnh như vậy, khéo nh́n (sự
vật) với ư niệm xả ly. Nầy các Tỳ kheo, trong khi Tỳ kheo với tâm
định tĩnh như vậy, khéo nh́n (sự
vật) với ư niệm xả ly, trong khi ấy xả giác chi bắt
đầu khởi lên nơi Tỳ kheo.
Trong khi ấy, xả giác chi được Tỳ
kheo tu tập. Trong khi ấy, xả giác chi được Tỳ kheo làm cho
đi đến sung măn.
Nầy các Tỳ kheo, trong khi quán thọ trên các
cảm thọ ... (như trên) ... quán tâm trên tâm ... (như trên) ...
quán pháp trên các pháp, Tỳ kheo an trú, nhiệt tâm, tỉnh giác,
chánh niệm với mục đích điều phục
tham ưu ở đời, trong khi ấy niệm của vị ấy được an trú, không hôn
mê. Nầy các Tỳ kheo, trong khi niệm của Tỳ kheo
được an trú, không có hôn mê,
niệm giác chi trong khi ấy được bắt
đầu khởi lên noi Tỳ kheo. Niệm giác chi trong khi ấy
được Tỳ kheo tu tập. Niệm giác chi
trong khi ấy, được Tỳ kheo làm cho
đi đến sung măn. Vị ấy an trú
vơí chánh niệm như vậy, suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy với trí
huệ. Nầy các Tỳ kheo, trong khi an trú với chánh niệm như vậy, vị
ấy suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy với trí huệ. Trạch pháp giác
chi trong khi ấy được bắt đầu khởi lên
nơi Tỳ kheo. Trạch pháp giác chi trong khi ấy
được Tỳ kheo tu tập. Trạch pháp giác
chi trong khi ấy đi đến sung măn, tinh tấn không thụ
động bắt đầu khởi lên nơi vị
ấy. Nầy các Tỳ kheo, trong khi Tỳ kheo suy tư, tư duy, thẩm sát
pháp ấy với trí huệ, và tinh tấn không thụ
động bắt đầu khởi lên nơi vị
Tỳ kheo. Tinh tấn giác chi được Tỳ
kheo tu tập. Tinh tấn giác chi được Tỳ kheo làm cho
đi đến sung măn.
Đối với vị ấy tinh cần tinh tấn, hỷ
không liên hệ đến vật chất
khởi lên. Nầy các Tỳ kheo, trong khi Tỳ kheo tinh cần tinh
tấn và hỷ không liên hệ đến vật chất
khởi lên nơi Tỳ kheo. Hỷ giác chi trong khi ấy
được Tỳ kheo tu tập. Hỷ giác chi
trong khi ấy được Tỳ kheo làm cho
đi đến sung măn. Thân của vị
ấy được tâm hoan hỷ trở thành
thân khinh an, tâm cũng được khinh
an. Nầy các Tỳ kheo, trong khi Tỳ kheo với ư hoan hỷ được thân
khinh an, được tâm cũng khinh an, trong khi ấy khinh an giác chi
bắt đầu khởi lên nơi Tỳ kheo. Trong khi ấy, khinh an giác
chi bắt đầu khởi lên nơi Tỳ
kheo. Trong khi ấy, khinh an giác chi
được Tỳ kheo tu tập, Trong khi ấy khinh an giác chi được Tỳ kheo làm
cho đi đến sung măn. Một vị có
tâm khinh an, an lạc, tâm vị ấy được
định tĩnh. Nầy các Tỳ kheo, trong khi vị ấy có thân khinh an, an
lạc, tâm vị ấy cũng được định tĩnh, trong khi ấy định giác chi bắt
đầu khởi lên nơi Tỳ kheo. Trong khi ấy,
định giác chi được Tỳ kheo tu tập.
Trong khi ấy, định giác chi được Tỳ kheo làm cho
đi đến sung măn. Vị ấy với tâm
định tĩnh như vậy, khéo nh́n (sự
vật) với ư niệm xả ly. Nầy các Tỳ kheo, trong khi Tỳ kheo với tâm
định tĩnh như vậy, khéo nh́n (sự
vật) với ư niệm xả ly, trong khi ấy xả giác chi
được Tỳ kheo tu tập. Trong khi ấy xả
giác chi được Tỳ kheo làm cho
đi đến sung măn.
Nầy các Tỳ kheo, bốn niệm xứ
được tu tập như vậy, được làm
cho sung măn như vậy, khiến cho bảy giác chi
được sung măn.
Và nầy các Tỳ kheo, bảy giác chi tu tập như thế
nào, làm cho sung măn như thế nào, khiến cho minh giải thoát
được viên măn. Ở
đây, nầy các Tỳ kheo, Tỳ kheo tu tập
niệm giác chi, liên hệ đến
viễn ly, liên hệ đến ly tham,
liên hệ đến diệt, hướng đến xả
ly; tu tập trạch pháp giác chi... (như trên)... tu tập tinh
tấn giác chi... (như trên)... tu tập hỷ giác chi... (như trên)...
tu tập khinh an giác chi ... (như trên)... tu tập
định giác chi,,, (như trên)...
tu tập xả giác chi, liên hệ đến viễn
ly, liên hệ đén ly tham, liên
hệ đến diệt, hướng đến xả ly. Nầy các
Tỳ kheo, bảy giác chi được tu tập như vậy, được làm cho
sung măn như vậy, khiến cho minh giải thoát
được viên măn.
Thế tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỳ kheo ấy
hoan hỷ tín thọ lời Thế tôn dạy.
Kinh Nhập tức Xuất tức Niệm, số 118, Trung Bộ
Kinh
(Đại Tạng Việt Nam,
Trung Bộ Kinh, Tập III, 249 264)
-ooOoo-
|