CHUYỆNNGẠQUỶ
2 PHẨM UBBARĪ
2.9
“Vì mục đích của việc (buôn bán) ấy mà chúng ta mang theo tài sản đi đến Kamboja. Dạ-xoa này (có khả năng) ban cho điều ước muốn, vậy chúng ta nên dẫn theo Dạ-xoa này.
Chúng ta hãy giữ lấy Dạ-xoa này, bằng cách tốt đẹp hoặc là bằng võ lực, rồi cho người đưa lên xe, và hãy mau mau đi đến Dvāravatī.”
“Người ngồi hoặc nằm ở bóng râm của thân cây nào thì không nên bẻ gãy cành của nó, bởi vì phản bội bạn bè là xấu xa.”
“Người ngồi hoặc nằm ở bóng râm của thân cây nào thì có thể đốn ngã luôn cả thân của nó nếu nhu cầu là như thế ấy.”
“Người ngồi hoặc nằm ở bóng râm của thân cây nào thì không nên bẻ gãy lá của nó, bởi vì phản bội bạn bè là xấu xa.”
“Người ngồi hoặc nằm ở bóng râm của thân cây nào thì có thể bứng nó lên luôn cả gốc nếu nhu cầu là như thế ấy.”
“Người cư ngụ trong ngôi nhà của ai đó cho dầu chỉ một đêm và thọ nhận cơm ăn nước uống ở nơi ấy, thì không nên suy nghĩ đến điều xấu xa đối với vị (chủ nhà) ấy dầu chỉ bằng tâm ý; trạng thái biết ơn đã được các bậc chân nhân ca ngợi.
Người cư ngụ trong ngôi nhà của ai đó cho dầu chỉ một đêm và được phục vụ cơm ăn nước uống, thì không nên suy nghĩ đến điều xấu xa đối với vị (chủ nhà) ấy dầu chỉ bằng tâm ý; bàn tay của người không phản bội tiêu diệt kẻ phản bội bạn bè.
Kẻ nào trước đây có việc tốt lành đã được (người khác) làm (cho mình) về sau hãm hại (ân nhân) một cách độc ác, người giết hại mạng sống ân nhân, kẻ ấy không gặp những điều may mắn.”
“Kẻ nào mắng nhiếc người trong sạch, không bị hư hỏng, không có vết nhơ, điều xấu xa trở về lại chính kẻ ngu ấy, tựa như bụi bặm nhỏ nhoi đã được ném ngược chiều gió.”
“Ta không dễ dàng bị khuất phục bởi vị Thiên nhân, hoặc bởi con người, hoặc bởi quyền uy. Ta là Dạ-xoa, đã đạt đến thần lực tối cao, có sự di chuyển xa, đã đạt được sắc đẹp và sức mạnh.”
“Bàn tay của ngài là vàng toàn bộ, năm ngón tay là nguồn mật ngọt, có nhiều dịch chất tiết ra; tôi nghĩ rằng ngài là (Chúa Trời) Purindada (người đã bố thí trước đây).”
“Ta không là Thiên nhân, không là nhạc sĩ Thiên đình, cũng không là (Chúa Trời) Sakka, người đã bố thí trước đây. Này Aṅkura, hãy biết ta là ngạ quỷ đã từ Bheruva đi đến nơi này.”
“Trước đây ở Bheruva ngài đã có giới hạnh gì, có sự thực hành gì? Do hạnh kiểm cao đẹp nào của ngài mà phước báu được thành tựu ở nơi bàn tay?”
“Trước đây ta đã là thợ may. Khi ấy ta ở Bheruva, có sự sinh sống rất khó khăn, nghèo khó; ta không có gì để bố thí.
Nơi làm việc của ta đã ở khu vực lân cận với Asayha, là người thí chủ có đức tin, đã làm việc phước thiện, có liêm sỉ.
Tại nơi ấy, những kẻ hành khất, những người nghèo túng thuộc phe nhóm khác nhau đi đến. Và họ hỏi ta về chỗ trú ngụ của Asayha.
‘Chúng tôi sẽ đi đến nơi đâu? Chúc bạn tốt lành. Nơi nào vật thí được ban phát?’ Được họ hỏi, ta sẽ nói cho họ chỗ trú ngụ của Asayha.
Sau khi duỗi ra cánh tay phải, (nói rằng): ‘Các người hãy đi đến nơi ấy. Chúc các người tốt lành. Nơi ấy vật thí được ban phát, ở chỗ trú ngụ của Asayha.’
Do việc ấy bàn tay có sự ban cho điều ước muốn, do việc ấy bàn tay có nguồn mật ngọt, do hạnh kiểm cao đẹp ấy của ta mà phước báu được thành tựu ở nơi bàn tay.”
“Nghe rằng ngài đã không tự tay mình ban phát vật thí đến bất cứ ai, trong khi tùy hỷ sự bố thí của người khác, ngài đã duỗi bàn tay ra và chỉ lối.
Do việc ấy bàn tay có sự ban cho điều ước muốn, do việc ấy bàn tay có nguồn mật ngọt, do hạnh kiểm cao đẹp ấy của ngài mà phước báu được thành tựu ở nơi bàn tay.
Thưa ngài, được tịnh tín, người ấy đã tự tay mình ban phát vật thí, vậy sau khi từ bỏ thân xác loài người, người ấy đã đi đến phương trời nào?”
“Ta không biết được việc đi hay là việc đến của Aṅgīrasa, bậc chịu đựng điều không thể chịu đựng, nhưng ta đã được nghe trong sự hiện diện của (Thiên Vương) Vessavaṇa rằng Asayaha đã đi đến cộng trú với (Chúa Trời) Sakka.”
“Quá đủ để làm việc tốt lành, để ban phát vật thí tùy theo khả năng. Sau khi nhìn thấy bàn tay có sự ban cho điều ước muốn, người nào mà chẳng làm việc phước thiện?
Đương nhiên, chính tôi đây sau khi từ nơi này ra đi và sau khi về đến Dvāravatī, tôi sẽ tiến hành việc bố thí, là việc mang lại sự an lạc cho tôi.
Tôi sẽ bố thí cơm ăn và nước uống, vải vóc và chỗ trú ngụ, trạm bố thí nước uống, giếng nước, và các lối vượt qua ở nơi hiểm trở.”
“Do điều gì mà ngươi có ngón tay cong queo, có khuôn mặt bị làm thành méo mó, và các con mắt rỉ nước, việc xấu xa gì đã do ngươi gây ra?”
“Trong lúc gia chủ Aṅgīrasa có đức tin đang ở nhà, tôi đã là người chủ chốt trong việc bố thí ở nơi phân phát thức ăn của ông ấy.
Ở tại nơi ấy, sau khi nhìn thấy những người hành khất có nhu cầu về thức ăn đi đến, tôi đã tránh sang một bên rồi đã làm khuôn mặt méo mó.
Do điều ấy mà tôi có ngón tay cong queo, có khuôn mặt bị làm thành méo mó, và các con mắt rỉ nước, việc xấu xa ấy đã do tôi gây ra.”
“Này kẻ tội lỗi, ngươi có ngón tay cong queo, có khuôn mặt bị làm thành méo mó, và các con mắt rỉ nước là đúng theo pháp, bởi vì ngươi đã làm khuôn mặt méo mó đối với việc bố thí của người khác.”
“Tại sao trong khi ban phát vật thí về cơm ăn, nước uống, vật thực cứng, vải vóc, và chỗ trú ngụ, mà lại có thể nhờ cậy người khác?”
“Đương nhiên, chính tôi đây sau khi từ nơi này ra đi và sau khi về đến Dvāravatī, tôi sẽ tiến hành việc bố thí, là việc mang lại sự an lạc cho tôi.
Tôi sẽ bố thí cơm ăn và nước uống, vải vóc và chỗ trú ngụ, trạm bố thí nước uống, giếng nước, và các lối vượt qua ở nơi hiểm trở.”
Từ nơi ấy, sau khi quay trở về và đã đạt đến Dvāravatī, vị Aṅkura ấy đã tiến hành việc bố thí, là việc mang lại sự an lạc cho bản thân.
Aṅkura đã bố thí cơm ăn và nước uống, vải vóc và chỗ trú ngụ, trạm bố thí nước uống, và giếng nước với tâm ý thanh tịnh.
‘Ai đói? Và ai khát? Ai sẽ mặc vải vóc? Những con thú kéo xe của ai bị mệt nhọc, hãy chọn những con thú ở đây thắng vào cỗ xe.
Ai muốn lọng che và vật thơm? Ai tràng hoa? Ai giày dép?’ Những người thợ cạo, đầu bếp, và buôn bán hương liệu luôn rao vang như thế, ban đêm và ban ngày, ở nơi ấy, tại chỗ trú ngụ của Aṅkura.
“‘Aṅkura ngủ an lạc,’ dân chúng biết về ta như vậy. Này Sindhaka, ta ngủ khổ sở bởi vì ta không nhìn thấy các hành khất.
‘Aṅkura ngủ an lạc,’ dân chúng biết về ta như vậy. Này Sindhaka, ta ngủ khổ sở khi các người nghèo túng là ít ỏi.”
“Nếu Sakka, Chúa Tể cõi Ba Mươi Ba và toàn thể thế gian, ban cho ngài điều ước muốn, thì trong khi ước muốn, ngài sẽ ước muốn điều ước muốn về việc gì?”
“Nếu Sakka, Chúa Tể cõi Ba Mươi Ba, ban cho ta điều ước muốn thì: vào thời điểm ta đang thức dậy là lúc mọc lên của mặt trời, có các món ăn của cõi Trời hiện ra và các hành khất là có giới hạnh.
Khi ta đang bố thí thì (vật thí) không bị cạn kiệt, sau khi bố thí thì ta không hối tiếc, trong khi bố thí thì tâm được tịnh tín, ta ước muốn điều ước muốn của Sakka là như thế.”
“Không nên ban bố tất cả của cải cho kẻ khác, nên ban phát vật thí và nên bảo vệ tài sản; chính vì thế tài sản hiển nhiên là hơn sự bố thí, với sự ban phát quá mức thì các gia đình không còn tồn tại.
Các bậc sáng suốt không khen ngợi việc không bố thí và việc bố thí quá mức; chính vì thế tài sản hiển nhiên là hơn sự bố thí; người có bản tính sáng suốt nên hành xử theo lối trung dung.”
“Ôi, thật vậy sao, thưa ông. Tôi sẽ còn bố thí, bởi vì những người tốt, các bậc chân nhân sẽ cộng sự với tôi, tựa như cơn mưa đang làm tràn đầy những vùng đất trũng, tôi nên làm cho tất cả những người nghèo túng được toại ý.
Người nào sau khi nhìn thấy các hành khất mà có vẻ mặt tươi tắn, sau khi bố thí mà có tâm ý hoan hỷ; điều ấy là hạnh phúc của người đang sống tại gia.
Người nào sau khi nhìn thấy các hành khất mà có vẻ mặt tươi tắn, sau khi bố thí mà có tâm ý hoan hỷ; điều ấy là sự thành công của việc dâng hiến.
Ngay trước khi bố thí có tâm hoan hỷ, trong khi bố thí nên làm cho tâm được tịnh tín, và sau khi đã bố thí có tâm hoan hỷ; điều ấy là sự thành công của việc dâng hiến.”
“Bữa ăn thường xuyên được bố thí cho mọi người ở chỗ trú ngụ của Aṅkura, con người mong mỏi việc dâng hiến, là sáu mươi ngàn cỗ xe.
Ba ngàn đầu bếp chính, có các bông hoa tai bằng ngọc ma-ni đã được trau chuốt, sống phụ thuộc vào Aṅkura, bận rộn với vật dâng hiến trong việc bố thí.
Sáu mươi ngàn người nam, là các thanh niên, có các bông hoa tai bằng ngọc ma-ni đã được trau chuốt, bổ củi ở cuộc đại thí của Aṅkura.
Mười sáu ngàn phụ nữ, những người đàn bà đã được điểm trang với mọi thứ trang sức, nhồi trộn các món (gia vị) ở cuộc đại thí của Aṅkura.
Mười sáu ngàn phụ nữ đã được điểm trang với mọi thứ trang sức, cầm thìa phục vụ ở cuộc đại thí của Aṅkura.
Vị Sát-đế-lỵ đã ban phát nhiều (vật) đến nhiều (người), đã tự tay ban phát trong một thời gian dài, một cách nghiêm chỉnh, sau khi đã thể hiện sự tôn trọng, lần này đến lần khác.
Aṅkura đã tiến hành cuộc đại thí trong khoảng thời gian dài, trong nhiều tháng, nhiều nửa tháng, nhiều mùa, và nhiều năm.
Aṅkura đã bố thí và dâng hiến như vậy trong khoảng thời gian dài, sau khi từ bỏ thân xác loài người, vị ấy đã đi đến cõi Ba Mươi Ba.”
“Indaka đã dâng phần thức ăn một muỗng đến ngài Anuruddha, sau khi từ bỏ thân xác loài người, vị ấy đã đi đến cõi Ba Mươi Ba.
Indaka sáng chói vượt trội Aṅkura về mười phương diện: về sắc, về thinh, về vị, về hương, về xúc làm thích ý, …
… về tuổi thọ, luôn cả về danh tiếng, về sắc đẹp, về hạnh phúc, và về quyền hành; Indaka sáng chói vượt trội Aṅkura.”
“Này Aṅkura, cuộc đại thí đã được ngươi bố thí trong thời gian dài. Ngươi ngồi quá xa, hãy tiến đến gần Ta.”
Ở cõi Ba Mươi Ba, khi ấy đức Phật, bậc Tối Thượng Nhân, đã trú ngụ ở gốc cây san hô, nơi tảng đá Paṇḍukambala.
Chư Thiên ở mười (ngàn) thế giới tụ hội lại hầu cận đấng Toàn Giác đang cư ngụ ở đỉnh ngọn núi.
Không có vị Thiên nhân nào sáng chói vượt trội đấng Toàn Giác về màu da; sau khi vượt trội tất cả chư Thiên, chỉ đấng Toàn Giác chói sáng.
Khi ấy, Aṅkura ấy đã ở cách mười hai do-tuần, còn Indaka chói sáng vượt trội ở không xa đức Phật lắm.
Sau khi quan sát Aṅkura luôn cả Indaka, đấng Toàn Giác, trong lúc nhấn mạnh về đối tượng xứng đáng cúng dường, đã nói lời nói này:
‘Này Aṅkura, cuộc đại thí đã được ngươi bố thí trong thời gian dài. Ngươi ngồi quá xa, hãy tiến đến gần Ta.’
Được khích lệ bởi bậc có bản thân đã được tu tập, Aṅkura đã đáp lại lời này: ‘Con được gì với sự bố thí ấy, khi có tình trạng thiếu vắng đối tượng xứng đáng cúng dường?
Dạ-xoa Indaka này đây sau khi dâng cúng vật thí chút ít thì chói sáng vượt trội chúng con, giống như mặt trăng ở quần thể các vì sao.’
‘Giống như hạt giống, dẫu nhiều, đã được gieo ở thửa ruộng cằn cỗi, kết quả là không dồi dào, cũng không làm người nông phu vui mừng.
Tương tự y như thế, nhiều vật thí đã được thiết lập ở những kẻ có giới tồi, quả báo là không dồi dào, cũng không làm người thí chủ vui mừng.
Cũng giống như hạt giống, dẫu ít, đã được gieo ở thửa ruộng màu mỡ, khi được ban cho mưa đều đặn, kết quả khiến người nông phu vui mừng.
Tương tự y như thế, hành động dầu nhỏ nhoi được làm ở các vị có giới có đức hạnh như thế ấy, phước báu là có kết quả lớn lao.’
Sau khi cân nhắc vật thí nên được bố thí nơi nào khiến vật đã được bố thí có quả báo lớn lao, các thí chủ, sau khi cân nhắc rồi dâng cúng vật thí, đi đến cõi Trời.
Sự bố thí sau khi cân nhắc được đấng Thiện Thệ khen ngợi. Những vị nào là đối tượng xứng đáng cúng dường ở thế giới sinh vật này đây, các vật đã được bố thí ở những vị ấy có những quả báo lớn lao, giống như các hạt giống đã được gieo ở thửa ruộng tốt.”
Chuyện Ngạ Quỷ của Aṅkura là thứ chín.