TRƯỞNG LÃO KỆ

1056 NHÓM BỐN MƯƠI

261. Mahākassapa

“Không nên sống được tôn vinh bởi đồ chúng; bị bận tâm, định là điều khó đạt được. Sự giao du với nhiều hạng người là khổ sở, sau khi nhìn thấy như thế, không nên ưa thích đồ chúng.

Vị hiền trí không nên đi đến các gia đình; bị bận tâm, định là điều khó đạt được. Là người năng nổ, bị tham đắm ở vị nếm, vị ấy bỏ bê mục đích, nguồn đem lại sự an lạc.

Các vị đã tuyên bố việc đảnh lễ và cúng dường ở các gia đình chỉ là ‘bùn lầy.’ Mũi tên mảnh mai thì khó rút ra, sự tôn vinh là khó từ bỏ đối với người ti tiện.

Sau khi từ chỗ trú ngụ đi xuống, tôi đã đi vào làng để khất thực. Có người đàn ông bị cùi đang ăn, một cách nghiêm chỉnh tôi đã đứng gần gã ấy.

Người ấy với bàn tay bị lở loét đã dâng vắt cơm cho tôi. Trong khi người ấy để vắt cơm vào, ngón tay của gã cũng đã bị rụng xuống ở nơi ấy.

Và tôi đã dựa vào chân của vách tường, rồi thọ dụng vắt cơm ấy. Ngay trong khi đang ăn, hoặc đã ăn xong, sự ghê tởm không có ở nơi tôi.

Vị nào có vắt cơm do đã đứng (khất thực) là thức ăn, và nước tiểu hôi thối là phương thuốc, chỗ nằm ngồi là gốc cây, và vải bị quăng bỏ là y phục, sau khi thọ hưởng các thứ này, chính vị ấy là người của bốn phương.

Nơi nào nhiều người bị khổ nhọc trong khi leo lên ngọn núi, nơi ấy vị Kassapa, người thừa tự của đức Phật, có sự nhận biết rõ, có niệm, được hỗ trợ bởi năng lực của thần thông, leo lên.

Trong khi trở về sau khi khất thực, vị Kassapa trèo lên tảng đá, tham thiền, không còn chấp thủ, sự sợ hãi và khiếp đảm đã được dứt bỏ.

Trong khi trở về sau khi khất thực, vị Kassapa trèo lên tảng đá, tham thiền, không còn chấp thủ, được tịch tịnh giữa những kẻ đang bị thiêu đốt.

Trong khi trở về sau khi khất thực, vị Kassapa trèo lên tảng đá, tham thiền, không còn chấp thủ, có phận sự đã được làm xong, không còn lậu hoặc.

Những thửa đất, được trải rộng với những tràng hoa kareri, làm thích ý, những tảng núi đá đáng yêu ấy, vang dội tiếng rống của loài voi, khiến tôi thích thú.

Có màu sắc của những đám mây xanh, những dòng chảy tinh khiết, được ưa thích, mát lạnh nhờ vào nước, những tảng núi đá ấy, được che kín bởi những con mối đỏ, khiến tôi thích thú.

Tương tự đỉnh chóp của đám mây xanh, tương đương với ngôi nhà mái nhọn cao quý, những tảng núi đá đáng yêu ấy, vang dội tiếng kêu của loài voi, khiến tôi thích thú.

Mặt đất bằng đáng yêu được đổ cơn mưa lớn, các hòn núi được các vị ẩn sĩ lai vãng, những tảng núi đá ấy, vang dội tiếng kêu bởi những con chim công, khiến tôi thích thú.

Vừa đủ cho tôi, người có ước muốn tham thiền, có bản tính cương quyết, có niệm. Vừa đủ cho tôi, vị tỳ khưu có ước muốn về mục đích, có bản tính cương quyết.

Vừa đủ cho tôi, vị tỳ khưu có ước muốn về sự thoải mái, có bản tính cương quyết. Vừa đủ cho tôi, người có ước muốn rèn luyện, có bản tính cương quyết như thế ấy.

Tương tự như những đóa hoa của cây sợi gai, giống như bầu trời được bao phủ bởi những đám mây, những tảng núi đá ấy, được đông đúc các giống chim nhiều loại, khiến tôi thích thú.

Không đông đảo những người tại gia, được lai vãng bởi những bầy nai, những tảng núi đá ấy, được đông đúc với các giống chim nhiều loại, khiến tôi thích thú.

Với nước trong vắt, với những tảng đá lớn, được lai vãng bởi các con khỉ và nai, được bao phủ bởi rong rêu ẩm ướt, những tảng núi đá ấy khiến tôi thích thú.

Theo tôi, sự thích thú đối với năm loại nhạc cụ là không phải thế ấy, giống như (sự thích thú) của vị có tâm chuyên nhất đang nhìn thấy rõ Giáo Pháp một cách đúng đắn.

Không nên làm việc nhiều, nên tránh xa mọi người, không nên gắng sức. Là người năng nổ, bị tham đắm ở vị nếm, vị ấy bỏ bê mục đích, nguồn đem lại sự an lạc.

Không nên làm việc nhiều, nên tránh xa việc không đưa đến mục đích. Thân thể bị kiệt quệ, mệt mỏi; bị khổ nhọc, vị ấy không tìm thấy sự vắng lặng.

Chỉ với việc mấp máy đôi môi, cũng không nhìn thấy được bản ngã. Kẻ có cái cổ cứng cỏi bước đi, nghĩ rằng: ‘Ta là tốt hơn.’

Không tốt hơn, kẻ ngu dốt nghĩ rằng bản thân là tốt hơn. Những người hiểu biết không khen ngợi con người có tâm ý cứng cỏi ấy.

Người nào không dao động ở các trạng thái tự phụ (nghĩ rằng): ‘Ta là tốt hơn,’ hoặc là ‘Ta không là tốt hơn,’ ‘Ta là kém cỏi hoặc tương đương,’ …

… vị tương tự như thế ấy, có trí tuệ, khéo chuyên chú vào các giới, được gắn bó với sự vắng lặng của tâm; quả vậy, những người hiểu biết khen ngợi vị ấy.

Kẻ nào không có sự kính trọng đối với các vị đồng Phạm hạnh, (kẻ ấy) bị cách xa khỏi Chánh Pháp, giống như trái đất so với bầu trời.

Còn đối với những vị nào, sự hổ thẹn và ghê sợ (tội lỗi) luôn được thiết lập một cách đúng đắn, Phạm hạnh được tiến triển, đối với những vị ấy việc tái sanh lần nữa được cạn kiệt.

Vị tỳ khưu tự kiêu, chao đảo, đã khoác lên với tấm vải bị quăng bỏ, tựa như con khỉ với tấm da sư tử, vị ấy không chói sáng với y ấy.

Vị không tự kiêu, không chao đảo, thận trọng, có giác quan đã được thu thúc, chói sáng với tấm vải bị quăng bỏ, tựa như con sư tử ở trong hang núi.

Nhiều vị Thiên nhân này, có thần thông, có danh tiếng, tất cả mười ngàn vị Thiên nhân ấy là thuộc về tập thể của đấng Phạm Thiên.

Các vị đứng, chắp tay lại, đang lễ bái vị Tướng Quân Chánh Pháp Sāriputta, bậc anh hùng, có thiền chứng lớn lao, được định tĩnh.

‘Thưa bậc siêu nhân, xin kính lễ ngài. Thưa bậc tối thượng nhân, xin kính lễ ngài. Chúng tôi không thấu hiểu về việc ngài tham thiền nương vào đề mục nào.

Quả là điều kỳ diệu về việc chư Phật có hành xứ thâm sâu của bản thân, chúng tôi không thấu hiểu được các Ngài, (mặc dầu) được hội tụ sự (tinh tế như người bắn tên) xuyên thủng cọng tóc.’

Khi ấy, sau khi nhìn thấy vị Sāriputta ấy, vị xứng đáng sự tôn vinh, được tập thể chư Thiên tôn vinh như thế ấy, nụ cười đã hiện ra ở vị Kappina.

So sánh ở lãnh vực của chư Phật, ngoại trừ bậc Đại Hiền Trí, tôi được nổi bật về đức hạnh của các pháp từ khước, người tương tự như tôi không tìm thấy.

Bậc Đạo Sư đã được tôi hầu hạ, lời dạy của đức Phật đã được thực hành, vật mang nặng đã được đặt xuống, giờ đây không còn tái sanh nữa.

Bậc Đại Hiền Trí có sự thiết lập niệm là cái cổ, có đức tin là cánh tay, có tuệ là cái đầu. Bậc có đại trí, luôn luôn du hành, được tịch tịnh.”

Đại đức trưởng lão Mahākassapa đã nói những lời kệ như thế.

Kệ ngôn của trưởng lão Mahākassapa.

TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
“Ở nhóm Bốn Mươi, vị tên Mahākassapa là vị trưởng lão độc nhất, và các câu kệ là bốn mươi hai.”

Nhóm Bốn Mươi được chấm dứt.